Đứa trẻ ở Trạm Tấu lần đầu xuống phố ngáo ngơ thế nào thì bộ mặt tôi lúc một mình kéo vali sang Nhật cũng y như vậy, dù tôi đã qua tuổi 18 lần thứ hai. Tôi dặn chồng phải ở lại sân bay cho đến khi tôi nhắn tin báo đã qua hết các cửa làm thủ tục êm xuôi, để anh ấy có thể kịp thời ra tay “cứu net” nếu tôi không may bị giữ lại ở một khúc nào. Xong chưa kịp thở phào, tôi lại nghĩ khi sang đến Nhật mới là vấn đề, vì ở đó tôi không thể gọi ai cứu viện.
Cũng may, chuyến bay thuận lợi và tôi không gặp trục trặc gì khi nhập cảnh. Xuống đến sân bay Haneda tôi gọi ngay cho Trọng, đứa em từng học cùng lớp thạc sĩ đang làm nghiên cứu sinh ở Tokyo nhưng nó bảo đang đi Phú Sĩ. Không sao, tôi tin mình sẽ “sống sót” ở đây (dù người Nhật hầu như không nói tiếng Anh, còn tiếng Nhật tôi chỉ biết mấy từ như Doreamon, Nobita hay Sakura với Osaka…).
Qua khu vực băng chuyền hành lý, một người đàn ông mặc đồng phục giơ tờ giấy có in hình các loại rau củ quả bằng mấy thứ tiếng và hỏi tôi một câu nửa tiếng Anh nửa tiếng Nhật, tôi hiểu đại khái là “Quý khách có mang theo những thứ này không?”. Tôi trả lời là có và được mời ra một khu vực riêng để xuất trình. Vì đã tìm hiểu kỹ những thứ được và không được mang vào Nhật nên tôi rất tự tin mở túi để họ xem, ngoài mấy hộp ô mai sấu thì cũng chỉ có ruốc nấm với cà phê. Hai người đàn ông làm nhiệm vụ tỏ ra ngạc nhiên với gói ruốc nấm vì tưởng đó là thịt, sau đó thông báo thủ tục đã xong, cúi chào lịch sự và mời tôi đi tiếp.
Sân bay Haneda rộng nhưng có đủ bảng chỉ dẫn nên tôi không bị choáng ngợp như khi đến Los Angeles hơn hai năm trước. Theo lời khuyên của một anh cựu học viên GLIK, tôi mua vé xe buýt Limousine thay cho việc đi tàu, vì hướng dẫn cách đi từ sân bay về khách sạn bằng tàu điện được Fujitsu gửi về trước đó chi tiết đến mức tôi thấy… rối tinh rối mù. Cô bé bán vé Limousine ở sân bay cũng nói với mớ hành lý lỉnh kỉnh của tôi thì việc đi tàu không phải một lựa chọn khôn ngoan, do phải đổi tuyến ít nhất một lần. Thế là tôi bấm bụng chi gần 1.200 yên, gấp đôi mức tiền đi tàu, mua vé.
Ra khỏi sân bay lạnh kinh người, nhưng không lạnh sâu như kiểu Hà Nội. Nếu nhiệt độ ngoài trời ở Hà Nội xuống đến 8 độ C như thế này, chắc chắn tôi sẽ mặc nhiều áo quần đến mức người cứng như robot và có ngã xe cũng không cảm thấy đau. Ở đây, chỉ cần che kín gió là thấy ấm, vào trong xe buýt còn nóng sực lên. Sau này tôi còn phải thực hiện động tác cởi ra – mặc vào áo khoác rất nhiều lần, nhất là khi đi dạo phố.
Đi xe buýt đúng là tiện hơn, nhưng đắt hơn cả về giá vé lẫn chi phí cơ hội; thay vì chỉ mất chừng 60 phút, tôi ngồi bó giò mất 90 phút mới đến khách sạn Tokyo Dome, điểm dừng gần nhất để đi bộ về Koraku Garden Hotel, nơi tôi sẽ ở trong 6 tuần sắp tới. Trong hướng dẫn thì từ đó về khách sạn chỉ chừng 700m, nhưng vì tôi phải “đánh vật” để kéo 2 chiếc vali và một túi xách trên vỉa hè lát gạch sần với đôi tay đã tê cóng nên cảm giác như vài cây số. Cứ một quãng tôi lại giơ tờ giấy hỏi đường được Văn phòng Fujitsu-JAIMS giúp chuẩn bị sẵn bằng tiếng Nhật để hỏi, song không mấy ai biết khách sạn này. Cuối cùng tôi gặp một người đàn ông nói tiếng Anh và được khẳng định mình đã đi đúng đường.
Khách sạn nằm trong khuôn viên Cung hữu nghị Nhật-Trung nên lễ tân hỏi tôi có nói được tiếng Quan Thoại không. Khi tôi sang Trung Quốc, nhiều người địa phương cũng nhầm lẫn tôi là đồng bào của họ dù khi soi gương tôi không tìm được ra điểm nào tương đồng giữa bộ mặt của mình với những cô gái Trung Hoa mắt một mí thô thô tôi hay gặp khi đi dẫn tour trong Văn Miếu. Tôi dùng vốn tiếng Trung tạm đủ hiểu để hoàn thành thủ tục check-in và nhận phòng.
Phòng khách sạn chỉ chừng 12m2 nhưng cực kỳ tiện lợi, thậm chí phòng tắm vỏn vẹn 2m2 nhưng cũng có bồn tắm làm tôi thích thú. Việc người Nhật có những thiết kế thông minh để tiết kiệm tối đa nguồn tài nguyên thì tôi cũng đã được nghe đến từ lâu. Bụng đói meo, tôi tạm dừng việc khám phá các thiết bị có trong phòng, nhanh chóng thu xếp qua loa rồi đi ra ngoài kiếm thứ gì đó ăn tối. Tôi tìm được một siêu thị nhỏ ngay bên cạnh ga Iidabashi, cách khách sạn chừng 400m. Dù đã chuẩn bị tâm lý trước là mức phí sinh hoạt ở Tokyo sẽ vô cùng đắt đỏ, tôi vẫn không khỏi than thầm khi nhìn giá niêm yết trên các hộp cơm và đổi sang tiền Việt.
Mua xong hộp cơm, tôi quay về, đứng trên cầu bộ hành một lát nhìn đường phố trong ánh đèn rực rỡ. Từng tốp vài chục người đứng chờ ở ngã tư rồi tất cả túa ra đường ngựa vằn khi đèn tín hiệu chuyển sang xanh. Sau một ngày làm việc thật dài, có vẻ như người Nhật vẫn còn dư năng lượng để đi với tốc độ cực nhanh. Tôi mỉm cười, bên dưới chân tôi là cuộc sống bình thường và đơn giản nhưng sao khi nhìn vào đó, tôi thấy trong ngực mình trào lên một niềm hứng khởi khó lòng lắng xuống ngay. Tôi hít sâu một hơi, muốn hét lên thật lớn: Chào Tokyo. Vậy là tôi đã ở Tokyo, không phải chỉ bằng việc đến sân bay, ở khách sạn rồi đi loăng quăng đâu đó. Tôi đã là một thực thể sống trong thành phố này, sống thực sự, là một phần của nó bằng việc đơn giản nhất là xách túi cơm hộp đứng trên cầu dành cho khách bộ hành.
Ở hành lang tầng 7 của khách sạn, tôi gặp 2 anh bạn người nước ngoài và chúng tôi lập tức đoán ra mình cùng là “dân” GLIK. Dù được cảnh báo trước, tôi vẫn sốc không hề nhẹ vì hầu như không hiểu được họ nói gì. Vừa nghe vừa đoán, tôi biết anh bạn người Ấn Độ trông như diễn viên Bollywood không tìm thấy chỗ nào để ăn tối nên đã mời anh ta ăn tạm mỳ gói mình mang theo.

No Comment