Nếu nói Nhật Bản là thị trường lớn nhất thế giới của các hãng viễn thông thì cũng không sai, nhiều lần tôi gặp cảnh cả trăm người đứng quanh khu vực ga đều đang dán mắt vào điện thoại thông minh. Trên tàu cũng vậy, dù đứng hay ngồi thì họ vẫn dùng điện thoại. Thế nên khi thấy một bác đứng tuổi đọc sách trên tàu, tôi mừng như thể “tha hương ngộ cố tri”. Sách điện tử ngày càng phổ biến, cộng với sự sẵn có của quá nhiều ứng dụng giải trí trên smartphone khiến người đọc sách giấy ngày càng ít, không chỉ ở Việt Nam mà đâu cũng vậy. Nhưng vốn tính bảo thủ (càng ngày tôi càng nhận thấy mình có nhiều đặc điểm giống người Nhật), tôi cương quyết nói “không” với thiết bị điện tử khi đọc sách. Đọc không có nghĩa là chỉ dùng đến mắt, tôi thích nghe tiếng sột soạt khi lật trang, thích cảm giác chân thực khi chạm vào mặt giấy, thích cái mùi thơm tho của những cuốn sách mới và thậm chí cả cái mùi ẩm mốc của những cuốn sách để trên giá quá lâu trong tiết trời nồm.
Tôi có cảm tình đặc biệt với đất nước và con người nơi đây cũng nhờ những cuốn truyện mình đọc từ khi còn niên thiếu như Shogun (Tướng quân), lớn hơn một chút thì có Hồi ức của một Geisha còn sau này là tiểu thuyết của Haruki Murakami. Còn nhớ hồi học lớp 10, tôi mượn bộ Shogun giấy đen một mặt bóng một mặt sần của cô bạn cùng tên nhà ở Hàng Thiếc rồi đọc ngấu nghiến không rời ra được. Đến khi nghe nói Nhà sách Đông Tây gần Bờ Hồ bán sách mới hạ giá, tôi đạp xe suốt trưa nắng để lên mua, thấy mình may không để đâu cho hết khi họ chỉ còn một bộ cuối cùng. Đấy là lần đầu tiên tôi biết đến Nhật Bản với tinh thần võ sỹ đạo: trung thành, can đảm, trọng danh dự và coi thường cái chết. Tôi đã chấn động khi đọc về nghi thức seppuku – tự mổ bụng chết trong danh dự để không phải sống trong ô nhục. Việc người Nhật tự sát ngày nay nếu nhìn từ góc độ xã hội văn minh thì có thể gọi là tiêu cực, song nếu nhìn từ truyền thống, nó cũng phần nào cho thấy tinh thần samurai vẫn còn tồn tại. Và trớ trêu thay, đó là điều đáng để người ta trân trọng nhất là khi thế hệ trẻ Nhật Bản đang bị ảnh hưởng mạnh vì sự xâm lấn của văn minh Âu-Mỹ.
Khi được hỏi về Murakami, Koki bảo các tác phẩm của ông là một chủ đề gây tranh cãi. Ở Việt Nam, nhiều người không thích vì cách ông nói quá nhiều đến tình dục; có người còn chỉ trích truyện của Murakami là “dâm thư”. Chuyện tình dục thì tôi không đánh giá, nhưng thực tế là tôi cũng không thích một vài quyển ông viết kiểu “hiện thực hư ảo” với quá nhiều chi tiết rối rắm không sao nhớ nổi. Về Murakami tôi sẽ quay lại trong những phần sau.
Buổi tối đi học về mở điện thoại, tôi đọc được dòng trạng thái đầy tâm trạng của Giang, cô bạn GLIK 2015 viết cho ngày sinh nhật 31 tuổi. Tôi quen Giang qua chị Hoa, đồng nghiệp trong làng báo và cũng là người đưa tôi đến với khóa học này. Hồi đó trước khi nộp hồ sơ ứng tuyển, tôi hỏi kinh nghiệm chị Hoa và được giới thiệu với Giang. Ngay lần đầu tiên nói chuyện với Giang qua điện thoại, tôi đã rất có cảm tình. Giang chia sẻ hết mọi thứ mình biết bằng giọng nói nhẹ nhàng nhưng có khả năng truyền cảm hứng tuyệt vời. Sau này còn gặp mấy “cựu sinh viên” nữa và nhận ra điểm chung của họ là sự cởi mở, nhiệt tình với những suy nghĩ hiện đại và tích cực, tôi càng muốn được trở thành một học viên của GLIK. Từ ước mơ đến quyết tâm, không gì lay chuyển nổi.
Lần duy nhất gặp nhau ở Hà Nội, Giang kể cho tôi câu chuyện của mình. Vì học giỏi tiếng Anh nên hồi lớp 8, Giang được một chị sinh viên nhà bên nhờ dịch giúp những bức thư gửi về từ nước ngoài. “Chị ấy nhận làm thêm cho một tổ chức phi chính phủ, nơi nhận tài trợ từ nước ngoài để chạy một dự án hỗ trợ trẻ em nghèo Việt Nam. Cứ định kỳ vài tháng một lần, các gia đình giàu có ở một số nước châu Âu sẽ gửi thư về cho đứa trẻ mình bảo trợ để hỏi thăm, động viên chúng”, Giang kể. Những bức thư ấy đã làm thay đổi cuộc đời Giang, lần đầu tiên cô biết có cả một thế giới bao la đẹp đẽ bên ngoài thị xã Hà Đông nhỏ bé của mình. Học xong trung học phổ thông, Giang chọn một trường đại học với điểm tuyển sinh thuộc hàng thấp nhất để không mất quá nhiều thời gian ôn luyện. Trong suốt những năm ở giảng đường cũng vậy, cô lớp trưởng cực kỳ cá tính lên lớp với số giờ tối thiểu để không bị miễn ngược, thời gian còn lại dành để đi trải nghiệm. Lên rừng xuống biển, lặn lội đến những nơi xa nhất cùng các nhóm thanh niên nước ngoài đến Việt Nam dự trại hè; đi dịch cho khách tour, làm cộng tác viên cho các dự án phi chính phủ… Cơ hội cứ mở dần ra, và cô bước chân ra thế giới.
Tôi nghĩ lại những ngày tuổi trẻ của mình với vô vàn ước mơ, nhưng trong số đó chưa có thứ gì vượt ra ngoài biên giới an toàn của bản thân. Hồi ấy tôi chỉ biết lao đầu vào học với mục đích giành được thành tích thật cao, bây giờ chẳng biết treo đống bằng khen vào đâu và để dọa ai. Tốt nghiệp đại học xong thì lại lao đầu vào làm, có những khi làm 2-3 việc cùng một lúc, tiền rủng rỉnh hơn đấy nhưng mãi chẳng giàu. Bị cuốn theo cuộc sống bộn bề với con cái, gia đình, có một thời gian dài tôi không còn mơ ước. Đôi lúc tôi còn tưởng rằng mình đã quá tuổi để nghĩ đến những chuyện viển vông. Nhưng rồi có gì đó sâu thẳm bên trong cứ cựa quậy không yên, tôi nhận ra rằng mình không thể “sống mòn”. Một ước mơ mới cứ lớn dần lên, và không chịu lắng xuống cả khi tôi đã đặt chân đến Mỹ…
Dù theo đuổi ước mơ ở tuổi tôi hay bất cứ tuổi nào đi chăng nữa cũng không bao giờ là muộn, nhưng tôi vẫn muốn khuyên bọn trẻ con nhà tôi hãy biết mơ ước, mơ thật lớn, thật xa sớm chừng nào hay chừng ấy. Và tôi sẽ dạy con “quẳng sách vở đi mà sống”, bởi bên ngoài cổng trường là những bài học cực kỳ sinh động, cực kỳ quý giá mà chẳng thầy cô nào dạy được.

No Comment