Khi vừa bước lên tàu ở ga Shiodome, tôi đã cảm thấy có điều gì đó bất thường. Rõ ràng lúc này là giờ cao điểm, nhưng trên tàu chỉ có lác đác vài người. Tôi nhìn sang hai toa liền kề, cũng không có cảnh chen chúc như đáng lẽ ra phải thế. Lạ nữa là các bạn cùng lớp không hề tỏ ra ngạc nhiên, họ đứng túm tụm nói chuyện với nhau dù còn rất nhiều ghế trống. Dường như mọi người đều có mối bận tâm riêng và bỗng chốc tôi thành kẻ vô hình.
Hơi có chút mặc cảm, tôi không để ý đến họ nữa, ngồi xuống ghế gần cửa nhất nhưng chưa kịp ấm chỗ thì chuông điện thoại vang lên. Bình thường tôi vẫn để âm lượng đủ nghe nhưng không hiểu sao hôm nay tiếng chuông to thế, nghe như xoáy vào tai gây cảm giác cực kỳ khó chịu. Tôi vội vàng cho tay vào túi áo rút điện thoại, nhưng lúng túng thế nào mà chiếc điện thoại tuột khỏi tay, rơi xuống sàn tàu và trượt ra xa. Tôi chưa kịp nhặt thì một người đàn ông ngồi ở dãy ghế đối diện đứng phắt dậy, tiến đến sát tôi với khuôn mặt đỏ bừng vì tức giận. Ông ta nói một câu gì đó bằng tiếng Nhật, qua cử chỉ và cả những chuyển động trên cơ mặt ông ta, tôi đoán đó là một lời lăng mạ. Dù hơi sốc, tôi vẫn cố trấn tĩnh, đứng dậy xin lỗi và nói mình sẽ tắt chuông ngay nhưng ông ta tiếp tục nặng lời và vung tay ra phía cửa toa tàu như thể muốn đuổi tôi xuống. Tôi nhìn về phía lớp mình cầu cứu, hy vọng Koki hay Yuka sẽ nói giúp, song họ phớt lờ. Chưa kịp nghĩ xem mình sẽ làm gì tiếp, tôi bị người đàn ông đó đẩy mạnh ra phía cửa. Tôi hốt hoảng kêu lên nhưng cánh cửa tự động đã bật mở ra và một giây sau tôi đã ở bên ngoài, ngã ngồi dưới đất, hai chân cách thân tàu chưa đến chục phân.
Con tàu rầm rập chạy qua trong nỗi kinh hoàng tột độ của tôi. Không thể có chuyện phi lý như vậy được, đó là cố ý giết người. Đây là Tokyo, chứ không phải ở Brazil hay Mexico, nơi các băng đảng xã hội đen coi mạng người như cỏ rác. Tôi hét lên nhưng mọi âm thanh đều lọt thỏm trong tiếng động cơ ma sát xuống đường ray. Trước khi ánh sáng cuối cùng biến mất ở khúc quanh, tôi nhận ra mình đang ở trong đường hầm kín bưng. Tôi cố trấn an mình dù hai chân như muốn nhũn ra, còn tim đập thình thịch ngoài lồng ngực. “Không thể chết ở đây được”, tôi nghĩ đến gia đình và thấy bình tĩnh hơn đôi chút. Các bạn cùng lớp sẽ nhận ra sự vắng mặt của tôi và họ sẽ làm gì đó. Nhưng lúc nãy trên tàu, họ đã mặc kệ tôi kia mà? Tôi đút tay vào túi áo theo thói quen để tìm điện thoại nhưng nhớ ra ban nãy nó đã rơi trên tàu. Bình thường nếu đi đâu đó mà quên điện thoại ở nhà tôi đã cảm thấy như bị đẩy ra ngoài lề thế giới, nói gì đến hoàn cảnh khủng khiếp thế này. Mới vừa hôm qua, tôi hỏi chồng: Bỗng dưng vài ngày không thấy em liên lạc về thì anh sẽ làm thế nào trong khi không hề biết địa chỉ của em? Có vẻ như nếu tôi chết ở đây, sẽ không ai biết. Tôi hít sâu ba lần, song thấy chưa hiệu quả nên lặp lại thêm ba lần nữa. Cuối cùng, tôi quyết định đứng im vì chỉ chục phút nữa thôi sẽ có đoàn tàu khác chạy qua, và người lái tàu chắc chắn sẽ nhìn thấy tôi đứng đó. Điều duy nhất tôi cần vượt qua là không để mình bị cuốn vào gầm tàu bằng sức gió hút cực mạnh từng mấy lần làm tôi giật nảy người khi đứng chờ ở các ga.
Một phút trôi đi dài hơn thế kỷ. Tôi nghĩ đến buổi tối được bố dắt tay đi trên đường làng để về nhà bà ngoại sau khi đến từng nhà chúc tết họ hàng, hôm đó trời cũng tối thế này và đường làng thì không có đèn cao áp. Bố chỉ nơi mẹ đã chuyển dạ, đẻ rơi tôi giữa đường lên trạm xá đêm mùng 7 tết rồi bảo, những đứa trẻ sinh ra trong hoàn cảnh đặc biệt thường khác người, theo nghĩa này hay nghĩa khác. Bố là người đầu tiên phản đối chuyện tôi từ bỏ công việc mà nhiều người mơ ước chỉ vì một khóa học kéo dài 4 tháng, nhưng cũng là người đầu tiên nhắn cho tôi: “Người Việt mình không thua kém ai, chỉ chưa dám bước chân ra thế giới thôi” khi tôi gửi ảnh về.
Hai phút. Có âm thanh gì đó rin rít vọng lại từ xa, khiến tôi liên tưởng đến tiếng kêu cứu thảm thương của hai con lợn. Lứa lợn này trông đáng yêu hơn hẳn những con mà chúng tôi đã từng nuôi, vì chúng là lợn lai kinh tế, mõm ngắn, mặt tròn, lúc ăn no thì bụng chạm cả xuống sàn. Dù phải chia sẻ buồng vệ sinh của căn hộ tập thể 24m2 trên tầng 4 khu nhà lắp ghép trần thấp lè tè mà bố tôi được đơn vị phân cho với chúng, tôi không thấy khó chịu chút nào. Hồi đó mới vừa thôi bao cấp, lợn được gọi là “thủ trưởng” vì chúng là niềm hy vọng của nhiều gia đình công chức, nên tôi yêu quý chúng một cách rất bản năng. Việc tôi ghét nhất là phải đi xin nước gạo hàng ngày. Mỗi nhà trong khu tập thể đều có một chiếc xô tôn hoặc thùng cao su đựng nước vo gạo và đồ ăn còn thừa mỗi bữa, để những nhà nuôi lợn đi xin về nấu cám. Tôi rất sợ cái mùi thức ăn chua lòm ấy, sợ thái độ kẻ cả ban ơn của những bác chủ nhà, sợ cả việc phải vào chỗ bẩn nhất trong các căn hộ để lấy chúng, đổ sang xô nhà tôi rồi oằn lưng xách lên tầng. Và tôi không thích tiếng kêu của lũ lợn lúc bố mẹ tôi bán chúng, dù sau đó thế nào ba chị em cũng được mua quần áo mới.
Ba phút. Tôi không còn thấy sợ như lúc ban đầu nhưng người vẫn run lên vì lạnh và hình như còn đói nữa. Tôi nhớ đến đĩa phở xào nóng hổi thơm ngon mà mình thỉnh thoảng được ăn trong những sớm mùa đông. Ngày ấy mẹ làm y tá ở nhà máy dệt, vì công nhân làm ca nên cũng phải trực theo ca. Những hôm làm đêm, buổi sáng mẹ được chia một suất phở nhưng chẳng bao giờ ăn mà gói ghém mang về. Mẹ sẽ phi hành rồi cho thịt vào đảo trước, sau đó mới xào phở và cho ra đĩa cùng mấy cọng thơm Láng để bốn bố con ăn. Sau này được đi nhiều nơi, ăn nhiều món ngon và lạ nhưng tôi chẳng bao giờ quên hương vị đặc biệt của món phở xào ngày hàn vi ấy. Ramen của Nhật nổi tiếng thế giới cũng thua xa.
Bốn phút trôi qua. Trong đường hầm kín gió nhưng vẫn lạnh, tôi ước gì sáng nay mình mặc thêm một chiếc áo len. Những chiếc áo len thời thơ ấu của tôi luôn dày dặn và ấm áp hơn những chiếc áo “cảnh vẻ” sản xuất trên dây chuyền công nghiệp bây giờ. Năm nào mẹ cũng tháo những chiếc áo cũ đã cộc để đan lại cho ba chị em, nên mùa đông nào chúng tôi cũng có “áo mới” mặc đến trường. Nhưng đến một năm, mẹ không đan thêm nữa. Để đủ tiền nuôi 3 đứa con lớn nhanh như thổi, mẹ quyết định bỏ công việc an nhàn nhưng lương ba cọc ba đồng ở nhà máy. Ban ngày mẹ đi bán khăn bông – sản phẩm của nhà máy dệt mà mẹ có thể mua với giá ưu đãi, tối thì đến làm công nhân cho một xưởng chế biến, đóng gói nhân trần. Hồi đó khăn bông chưa sẵn có như bây giờ, nên khăn nhà máy bán rất đắt hàng, mẹ cho tôi đi theo để phụ. Trên chiếc xe đạp cà tàng, mẹ đã đèo cả bọc khăn to tướng với tôi ngồi vắt vẻo bên trên, lang thang hết vỉa hè này đến khu chợ khác trong quãng thời gian chuyển đổi chật vật ấy. Sau này tôi còn nhiều kỷ niệm khác với “sự nghiệp kinh doanh” của mẹ, thậm chí đến khi đã vào đại học, tôi vẫn là trợ thủ đắc lực cho quầy hàng khô đã “cứu” cả nhà tôi qua giai đoạn khó khăn.
Chắc được 5 phút rồi, tôi nhúc nhắc chân cho đỡ mỏi vì đứng im như cột đá nãy giờ. Một buổi tối khác của 18 năm về trước, sau chuyến đi tình nguyện hè ở Tuyên Quang, anh đến phòng ký túc xá tìm tôi. Chúng tôi đi lòng vòng quanh sân vận động của trường trong tiết thu dịu mát; anh nhắc đến một đoạn trong “Những người khốn khổ” của Victor Hugo, đấy là khi Marius gặp lại Cosette và sững sờ khi thấy cô bé gầy gò vẫn gặp trong công viên ngày nào đã vụt biến thành một thiếu nữ xinh đẹp tràn đầy nhựa sống. Anh bảo cũng như Marius, anh từng gặp tôi ngồi học ở sân trường cả vạn lần nhưng không hề để ý, cho đến một ngày kia… Tôi choáng ngợp trước niềm hạnh phúc bất ngờ, không nói được gì, chỉ đứng yên nhìn vào mắt anh để thấy trong đó là cả dải ngân hà lấp lánh.
Sáu phút, đồng hồ trong đầu tôi tiếp tục quay nhanh đến thời điểm 10 năm về trước. Thằng bé trông kỳ quặc thế nhỉ, đen sì sì, bé tẹo teo, chẳng giống hình trong ảnh siêu âm gì cả. Tôi nghĩ vậy lúc cô y tá bế Bin đến bên giường chăm sóc sau sinh, nhưng khi vừa chạm tay vào thằng bé, tôi đã cảm nhận được sợi dây định mệnh gắn liền cuộc đời của chúng tôi. Nếu như việc có được thằng bé là một kỳ tích của tôi, thì việc nhìn nó lớn dần lên là một phần thưởng vô giá mà tôi nhận được từ số phận. Tất cả thế giới của tôi, vũ trụ của tôi từ đó xoay quanh thằng bé với những buồn, vui, thương, giận của con người. Mẹ tôi bảo phải tách nó ra không nó sẽ bện hơi rồi chẳng đi được đến đâu, nhưng hóa ra người bện hơi lại chính là tôi.
Bảy phút. Có tiếng sột soạt gì đó trong đường hầm khiến tôi sởn da gà. Bình thường tôi không sợ ma, nhưng trí tưởng tượng sẽ đi rất xa nếu có yếu tố gì đó từ bên ngoài tác động, như những âm thanh khác thường trong đêm khuya vắng. Một hồi tôi thường thức đến 2-3h sáng để dịch một bộ truyện kinh dị cho nhà xuất bản, dù ngồi trong phòng kín nhưng tôi vẫn hay bị giật mình nhất là những đoạn hồn ma xuất hiện. Ngoài những lúc đó ra, thì khi ngồi dịch là quãng thời gian tôi cảm thấy thư giãn nhất trong ngày. Được làm việc mình yêu thích luôn là như vậy. Công việc làm báo bận rộn khiến tôi tưởng mình sẽ không bao giờ còn được dịch sách, thậm chí tôi còn từng nghĩ mình đành chấp nhận đánh đổi niềm vui đó để được làm công việc mà mình muốn. Thế rồi trong một lần không… kiềm chế nổi bản thân, tôi lại nhận một hợp đồng qua sự giới thiệu của người thầy đã đưa tôi vào “nghiệp dịch”. Đêm nào cũng trở dậy sau khi Bin đã ngủ say để mở máy làm, nhưng tôi luôn thấy phấn khích và thường quên hẳn thời gian. Cảm giác việc tìm ra các câu chữ giống như một cuộc dạo chơi, nhất là ở một thế giới khác với nơi tôi đang sống, gặp những con người mới, trải qua những cung bậc cảm xúc khác nhau của họ. Cũng chính từ chỗ dịch sách để kiếm sống, tôi bắt đầu mơ ước về một cuốn sách của riêng mình.
Tám phút. Nếu so sánh với những khó khăn tôi đã trải qua, thì chuyện hôm nay cũng bình thường thôi, tôi tự an ủi mình như vậy. Ở tuổi 33, chương trình thạc sỹ học bằng tiếng Anh vừa bắt đầu còn Bin mới vào học kỳ II lớp 1 thì tôi biết mình có thai. Vậy là ban ngày đi gần chục cây số đến trường, chiều tan học về qua nhà lấy cơm rồi lại phóng xe tới cơ quan làm đến tận khuya; đến giờ tôi cũng không hiểu sao mình vượt qua được và “sống sót” sau mùa hè đổ lửa ấy. Tôi thường tự ví sức chịu đựng của mình với sợi dây chun, muốn dài hơn thì chỉ cần kéo căng thêm chút nữa. Thế rồi kết quả tôi nhận được thật là mỹ mãn: sau khi sinh Be, tôi vẫn hoàn thành được chương trình và cuối cùng là chuyến đi Mỹ. Chuyến đi ấy kết thúc những tháng ngày vất vả của tôi, nhưng lại mở ra một trang mới trong cuốn nhật ký ghi đời. Tôi bắt đầu muốn sống cho mình, muốn thực hiện những ước mơ mà lâu rồi tôi chôn chặt trong lòng…
Đáng lẽ chuyến tàu tiếp theo phải đến rồi chứ nhỉ? Tàu điện ở Nhật không bao giờ đến muộn dù chỉ là 1 phút, trừ khi có tai nạn giữa đường. Tôi bắt đầu sốt ruột, trong khi tiếng tích tắc vẫn cứ vang lên đều đều trong tâm trí khiến tôi không sao bình tĩnh nổi. Mười phút. Mười hai phút. Mười lăm phút trôi qua. Những ký ức đẹp đẽ lúc này cũng bị chặn lại ở đâu đó, tôi không thể hình dung ra điều gì lạc quan được nữa. Căn hầm chật chội như không còn dưỡng khí và bóng tối đặc quánh tựa nhựa đường như đang thu hẹp lại, muốn bóp nghẹt, đẩy tôi đến nỗi hoảng loạn tột cùng. Tôi chìm sâu mãi xuống, chìm mãi xuống cái giếng rộng hoác, đen ngòm, đột nhiên trở nên vô vọng.
Khi nhận thức quay trở lại, tôi thấy mình đang chạy men theo tường bao của đường hầm. Phải rồi, theo như tôi nhớ thì khoảng cách giữa 2 điểm dừng của hệ thống tàu điện Tokyo không đến 2km, sao tôi lại cứ đứng chôn chân ở đây mà lo sợ. Lúc tôi bị đẩy ra ngoài chắc tàu cũng đã đi được nửa đường, tức là tôi chỉ còn cách ga nhiều nhất 1km. Ý nghĩ đó làm tôi phấn chấn hẳn lên, cảm thấy vững tâm hơn. Tôi chợt nhận ra mình đã thay đổi sau mấy tuần ở đây: tôi nghĩ về hiện tại và tìm cách thoát ra khỏi tình huống khó khăn, thay vì cứ luẩn quẩn cố lý giải nguyên nhân của nó – vốn là thứ không sao thay đổi được. Trong lúc chạy, tôi nghĩ đến Murakami. Ông chẳng nói “chúng ta phải đi qua bóng tối, qua những con đường hầm trước khi tới được nơi có ánh sáng” là gì. Tôi phải tự vượt qua đường hầm này bằng chính ý chí của mình chứ không thể chờ mong một phép màu nào xuất hiện.
Lạ một điều là chạy trong đường hầm tối om như vậy mà tôi không hề vấp ngã. Khi nhìn thấy vệt sáng đầu tiên, tôi bật khóc. Tôi không khóc vì mừng mình thoát nạn, mà tự hào về sự dũng cảm của mình. Sân ga dần dần hiện ra ngay trước mắt với những dáng người tôi tưởng đã không nhìn thấy cả năm nay. Sự hiện diện của con người khiến tôi có cảm giác tôi vẫn còn thuộc về thế giới này, còn đường hầm gớm ghiếc kia đã trở thành quá khứ rất xa. Bóng tối đã lùi lại phía sau, việc duy nhất tôi cần làm lúc này là bước tiếp về phía trước…
… Tôi tỉnh giấc vì tiếng nức nở của chính mình, chưa định hình được ngay rằng đó chỉ là một giấc mơ. Bên ngoài trời đã sáng dù đồng hồ mới báo 5h40. Đúng giờ này của ngày này tháng trước, tôi khẽ khàng vuốt má thằng bé con rồi xách vali rời nhà lúc nó đang say ngủ. Giờ này của ngày này tháng trước, tôi bước chân vào cuộc hành trình kỳ diệu để không bao giờ còn là tôi của những ngày xưa.

No Comment