Ngày cuối tuần, tôi cùng Yuka, Take, Koki, Shingo, Shin, Noriko, Santhosh và Kristen mua vé máy bay sang Đảo Lớn (Big Island) chơi. Big Island là đảo lớn nhất trong số tám đảo có người ở của Hawaii, diện tích lớn hơn tất cả những đảo khác cộng lại và cũng được coi là khu dự trữ sinh quyển lớn nhất Hawaii. Ban đầu khi Santhosh rủ tôi cũng còn ngập ngừng vì nghĩ đến ngân sách hạn hẹp của mình, song vì Bob và Faye nói họ có nhà bên đó nên không phải lo thuê khách sạn, tôi quyết định tận hưởng cơ hội hiếm có trong đời. Đích đến của chúng tôi là Kilauea, ngọn núi lửa cao hơn 1.200m so với mặt nước biển ở phía đông nam của đảo. Kể từ năm 1983 đến nay, Kilauea thường xuyên phun trào và nham thạch chảy dọc theo hai dãy nứt kéo dài về phía tây nam và phía đông, ra tới tận bờ biển ở cả hai bên của núi lửa. Chính vì thế mà màu xám đen chiếm vị trí chủ đạo trong phần lớn quãng đường hơn 500 cây số chúng tôi đi.
Take, kỹ sư phần mềm của Fujitsu đúng là một tay lái cừ khôi, đường lên núi liên tục cua tay áo mà tôi không hề bị say xe. Vì nghĩ dọc đường không có gì để ngắm nên tôi tranh thủ ngủ bù những ngày thức khuya làm bài, đến lúc mở mắt đã thấy màu xanh ngắt hiện ra phía trước. Đấy là lúc xe đi qua một thị trấn nhỏ với chừng hai chục nóc nhà. Những căn nhà gỗ sơn trắng xinh xắn nổi bật trên nền đồng cỏ, có cả một ngôi trường nho nhỏ, một nhà thờ dưới bóng cây mưa và quán cà phê mang phong cách 1980s. Khung cảnh giống hệt trong bộ phim “Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên” tôi xem hồi bé, khiến tôi ngỡ cô bé Laura với hai bím tóc lắc lư tinh nghịch sẽ bất ngờ xuất hiện sau cánh cửa có gắn vòng nguyệt quế kia và chạy vụt lên đồi.
Thấy còn sớm nên Take nhấn ga đi tiếp, không ngờ google map báo quán ăn gần nhất ở cách đó… 43 dặm. 1h chiều, cả nhóm mới dừng lại để ăn trưa. Chỉ có duy nhất một quán ăn Thái Lan với một cửa hàng tiện ích, sau khi không tìm thấy thứ gì khả dĩ để ăn trong cửa hàng tiện ích có bán cả cưa và đục đó, chúng tôi đành bấm bụng sang bên quán. Cô chủ và các nhân viên đều là người Thái nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ mang thực đơn ra và giới thiệu từng món ăn. Tôi gọi cơm rang, thứ “an toàn” nhất trong hoàn cảnh “nhỡ nhàng” và cũng có mức giá chấp nhận được. Cũng như một vài lần ăn chung khác, chúng tôi gọi các món khác nhau và chia sẻ để ai cũng có thể được thưởng thức đồ ăn đa dạng mà không tốn quá nhiều tiền.
Dù nhỡ nhàng nhưng hóa ra đó lại là một bữa trưa rất ngon miệng và vui nhộn. Các đĩa ăn được chuyền đi chuyền lại quanh bàn, những câu được nói nhiều nhất là “Cậu thử món này đi”, “Cảm ơn”, “Không có gì”, “Mình thử cái này được không?”, “Xin cứ tự nhiên”… Khi chúng tôi đứng lên, đĩa của ai cũng sạch trơn. Riêng về điểm ăn uống thì tôi đánh giá rất cao các bạn Nhật. Lần đầu tiên khi thấy Koki ăn các khúc hành trong xiên thịt nướng mà tôi bỏ lại sau khi đã chén hết gà, tôi đã khá ngạc nhiên, chỉ nghĩ có thể cậu ấy thích ăn hành. Nhưng rồi trong những bữa ăn chung sau đó, tôi mới biết Yuka cũng sẵn sàng ăn nốt phần còn lại mà người khác không thể hoàn thành. Ngay cả con trai tôi còn không chịu ăn “đồ thừa” mà thằng em để lại cho dù đó là món mà nó rất thích. Tôi muốn hỏi các bạn Nhật lý do, nhưng lại thôi vì sợ nhạy cảm. Đúng là một sự khác biệt lớn.
Tôi vẫn nhớ trong bộ phim tài liệu “Chuyện tử tế” của đạo diễn Trần Văn Thủy, bộ phim giành giải Bồ câu bạc tại Liên hoan phim Quốc tế Leipzig, từng so sánh: trẻ con Việt Nam được dạy rằng “các em vô cùng may mắn vì sinh ra ở một đất nước giàu tài nguyên thiên nhiên, rừng vàng biển bạc”, trong khi đó ở những ngôi trường của Nhật học sinh được dạy rằng “các em là những đứa trẻ không may vì sinh ra ở một đất nước không có tài nguyên thiên nhiên, khí hậu khắc nghiệt, một đất nước thua cuộc trong chiến tranh”. Phải chăng chính những lời rao giảng đầy hoa mỹ đã góp phần làm nên những người Việt lười biếng, chỉ biết đào đất để lấy vàng lấy bạc mà ăn, nên tài nguyên dần cạn kiệt, nghèo vẫn hoàn nghèo; trong khi người Nhật do nhận biết “sự thật trần trụi” từ nhỏ nên cần cù chịu khó, thấy được trách nhiệm của mình với quốc gia và làm hết sức mình để bù đắp phần thiếu hụt đó, rồi vươn lên thành một cường quốc hiện nay. Thái độ đúng đắn thể hiện từ hành vi nhỏ nhất: Đi ăn chung với nhau, ai thích ăn gì thì gọi đúng món đó cho mình, không có chuyện gọi đầy cả bàn như ở ta rồi người ăn được người không, đến khi đứng dậy còn thừa cả đống.

Chuyến đi hôm đó cũng thật là vui, cả bọn “xông hơi” bằng những luồng khí nóng phụt lên từ các rãnh nứt, lên ngó tận mắt các miệng núi lửa rồi đi ra biển, nơi nham thạch lấn ra cả vài trăm mét và chảy xuống nước tạo thành các cổng vòm. Tôi nhặt mấy viên đá mang về làm kỷ niệm, Yuka thấy vậy cũng làm theo. Khi về đến nhà đã tối, chúng tôi ăn xong lại tiếp tục lên xe đi đến núi lửa Mauna Kea để ngắm sao. Núi lửa Mauna Kea nếu tính từ phần chân dưới đáy biển thì còn cao hơn cả Phú Sĩ. Năm 1967, người ta bắt đầu đặt kính viễn vọng trên đỉnh núi để nghiên cứu thiên văn; đến nay đã có tới 12 kính thiên văn của các cơ quan độc lập được chuyển lên đây, gây nên sự bức xúc cho người dân bản địa. Nếu lên được đến đó thì quá tuyệt, nhưng vì không có người thuộc địa hình lái xe nên chúng tôi chỉ dừng ở điểm 2.800m.
Buổi đêm trên núi lạnh tê người, tôi đã mang theo áo gió nhưng răng vẫn đánh vào nhau lập cập. Định bụng sẽ nằm dài dưới đất để thỏa thuê nhìn ngắm, nhưng chưa đầy 3 phút tôi đã phải chồm dậy nhảy lò cò cho ấm người lên. Được một lúc cơ thể quen dần, tôi thả hồn mình trôi bồng bềnh giữa vũ trụ bao la đầy bí ẩn. Ngày bé tôi cũng từng thấy những bầu trời sao thế này khi nghỉ hè về quê với ông bà ngoại, nhưng phần lớn là không thích vì hễ tối nhiều sao thì ngày hôm sau sẽ nắng thật to; đến khi lớn lên rồi thì không sao tìm lại được lần nào nữa. Ở thành phố bị ô nhiễm ánh đèn, bọn trẻ nhà tôi khi nhìn thấy một ông sao bé tí trên khoảnh trời con con đã mừng như bắt được vàng. Bọn trẻ ở đây giàu có biết bao, chúng sở hữu cả một kho tàng vô tận ngay trên đầu.
Khi cả bầu trời sao lấp lánh hiện ra trước mắt, tôi thấy chấn cảm tận đáy lòng. Song dường như cảm giác thỏa mãn của tôi khi đó không phải vì đã thấy được thứ mình muốn thấy, mà vì chặng đường mình đã vượt qua để đến được đó nhiều hơn. Tôi đã đi hàng nghìn cây số để tới đây, những trải nghiệm trong hành trình đó giá trị hơn nhiều lần kết quả.
Một ngôi sao băng lướt vụt qua, tôi thì thầm nguyện ước mới của mình. Người ta bảo mong ước chỉ thành hiện thực nếu bạn nói đủ 3 lần khi sao băng rơi, điều vốn không ai làm nổi. Nhưng quan trọng gì đâu, cái chính là tôi lại có ước mơ, và một cuộc phiêu lưu mới bắt đầu…
Hôm sau, cả bọn dậy muộn vì một giờ sáng mới về. Bob đưa chúng tôi đi uống cà phê Kona nổi tiếng, sau đó ghé vào The Donkey Ball Factory để mua về làm quà một thứ “không thể không nếm khi đến Big Island”. Nhắc đến Donkey Ball thì đúng là một trải nghiệm “vừa ngon vừa buồn cười” mà du khách nào cũng nhớ tới. Đó là một nhãn hàng cực kỳ nổi tiếng với các loại hạt macadamia bọc chocolate. Cô bán hàng giải thích, cái tên này bắt nguồn từ lịch sử của vùng Kona. Ngày xưa, những chú lừa (donkeys) được dùng để thồ cà phê từ trên núi xuống. Tiếng kêu của chúng vang vọng khắp các thung lũng nên người dân gọi chúng là “Kona Nightingales” (Chim họa mi vùng Kona). Để tôn vinh những “người bạn” này, cửa hàng đã đặt cái tên có phần hài hước và táo bạo đó. Hú hồn, tôi còn tưởng người ta sản xuất macadamia kiểu tương tự “cà phê chồn”.
Trước khi ra sân bay để quay về Oahu, tôi hỏi Bob liệu việc mang nham thạch lên máy bay có bị cấm không. Bob tròn mắt nhìn tôi rồi tỏ ra bí hiểm “ai lấy nham thạch sẽ gặp phải những chuyện rủi ro khủng khiếp”. Thấy tôi có vẻ chưa tin, ông mở điện thoại ra cho tôi đọc. Theo truyền thuyết của người Hawaii, Kilauea chính là nơi ở của nữ thần lửa Pele. Nham thạch phun trào được coi là nước mắt và tóc của nữ thần, nên bà sẽ trừng phạt những ai dám lấy chúng đi khỏi đảo. Nghe nói đã có những vụ tai nạn xảy ra với những người giữ nham thạch trong nhà, đến mức họ phải quay về Big Island trả lại. Thấy Bob quả quyết vậy, tôi không dám mang những viên đá ấy về nhà nữa. Tuy không mê tín đến mức tin vào truyền thuyết, nhưng tôi tôn trọng văn hóa của người bản địa và còn thấy yêu mến cách họ giữ gìn tài nguyên hữu hạn của mình. Cả quần đảo rộng lớn thế này, người Hawaii vẫn biết nâng niu từng viên đá nhỏ.

No Comment