Hanh trinh trai nghiem
  • Home
  • Cà phê sáng
  • Trải nghiệm
  • Góc nhìn nghiêng
  • Cuộc sống muôn màu
  • Thế giới của T
  • Videos
  • About
Hanh trinh trai nghiem
  • Home
  • Cà phê sáng
  • Trải nghiệm
  • Góc nhìn nghiêng
  • Cuộc sống muôn màu
  • Thế giới của T
  • Videos
  • About
  • Home
  • Cà phê sáng
  • Trải nghiệm
  • Góc nhìn nghiêng
  • Cuộc sống muôn màu
  • Thế giới của T
  • Videos
  • About

Hanh trinh trai nghiem Hanh trinh trai nghiem

  • Home
  • Cà phê sáng
  • Trải nghiệm
  • Góc nhìn nghiêng
  • Cuộc sống muôn màu
  • Thế giới của T
  • Videos
  • About
Thế giới của T

Cho những ai đi lạc quá lâu trong mùa tuyết

Cho những ai đi lạc quá lâu trong mùa tuyết
  • Facebook
  • Twitter
  • Pinterest
  • LinkedIn

Thấy lửa sắp tàn, cô nhoài người cho thêm một khúc củi vào lò rồi kéo chăn trùm cả qua vai cho bớt lạnh.

Mới hơn ba giờ chiều mà bên ngoài đã tối hẳn. Sau mấy ngày mưa rả rích, sáng nay tuyết rơi dày, chỉ một chốc đã ngập kín xung quanh nhà. Trong tiết trời âm u xám xịt đầu đông thì có tuyết giống như một đặc ân, mọi thứ sáng lên đôi chút. Chỉ có điều, giờ đây đối với Vy, sáng hay tối, mưa hay tạnh cũng không khác nhau là mấy. Cô chỉ ra ngoài những khi cần mua thêm đồ ăn, thứ được tiêu thụ ở mức tối thiểu cho cơ thể vốn bình thường đã rất mảnh mai. Phần lớn thời gian trong ngày, Vy ngồi trên chiếc ghế bập bênh gần lò sưởi, đọc sách hoặc nghe nhạc từ chiếc radio đã cũ, hoặc thậm chí chỉ ngồi đó nhìn ra khoảng rừng trụi lá bên ngoài cửa sổ, đắm chìm trong những ký ức lãng đãng mơ hồ.

Vy đọc được mẩu tin cho thuê căn nhà này vào chớm thu, khi Linh được đưa về nước chừng một tháng. Cái tên Kirkkosaari vốn không mấy quen tai lập tức khiến cô nhớ đến tin nhắn từ một số lạ gửi tới cho mình, chỉ vài ngày trước khi sự việc xảy ra. “Nếu một ngày không chịu nổi nữa, hãy đến nhà thờ St. Michael ở Kirkkosaari… Ở đó có người dẫn đường cho những linh hồn bị lạc”. Nhưng đó không phải là lý do duy nhất khiến cô khó rời mắt khỏi bức hình chụp căn nhà được đăng trên báo địa phương. Có gì đó trông ám ảnh, khiến Vy quyết định lái xe suốt hơn hai giờ đồng hồ đến tận nơi xem.

Căn nhà gỗ nằm lọt trong khoảng rừng thưa, dù chỉ cách trung tâm thị trấn chừng hai cây số, nhưng nó giống như một chiều không gian bị lãng quên. Khi ấy cây còn chưa trút lá, từ con đường mòn dẫn vào, cô chỉ nhìn thấy mái ngói xám thấp thoáng sau những vòm lá rậm rì. Có vẻ như khuôn viên bên ngoài đã lâu không có người chăm sóc, xung quanh cỏ ba lá mọc cao xen lẫn những bụi oregano đầy hoa tím. Ngôi nhà một tầng dựng bằng những tấm gỗ dày sơn đỏ đã bạc màu. Trông ra hiên là một cửa sổ nhỏ hình vuông, khung sơn trắng bong tróc ra từng mảng. Tấm kính mờ hơi, phản chiếu lại bóng người đi ngang như một vệt khói nhòe. Bên dưới cửa sổ là một bồn hoa làm bằng gỗ, các góc cạnh bắt đầu mục nát, mùa hè chắc từng có vài cây phong lữ, nhưng lúc này chỉ còn mấy cọng khô thấm nước. Có cả một nửa thân cây gỗ được dùng làm ghế băng đặt bên ngoài, rêu phủ một lớp xanh rì.

Vy đẩy cửa bước vào trong, mùi gỗ cũ pha lẫn nhựa thông và chút ẩm ướt lạnh lẽo xộc ngay vào mặt. Sàn gỗ sẫm màu, có chỗ lún nhẹ vì thời gian. Những thanh xà nổi trên trần dày và thô, như những chiếc xương to của một con thú già gồng mình lên giữ cho căn nhà đứng thẳng. Gian phòng chính có một lò sưởi bằng đá kiểu cũ, giỏ đựng củi thông còn đầy như thể ai đó vẫn ở quanh đây. Vào buổi chiều, ánh sáng yếu ớt của mặt trời mùa thu chỉ vừa đủ để nhìn rõ mấy vật dụng giản đơn được chủ nhân hoặc người thuê trước kia để lại. Một chiếc ghế bập bênh với tay vịn đã nhẵn lì, chiếc thảm dày trải trước lò sưởi, mấy chiếc lọ gốm cũ trang trí đặt trên bậu cửa sổ, với chiếc đồng hồ tủ cây đã thôi không còn chạy đứng lặng lẽ như một người khổng lồ trầm mặc. Bên phải là gian bếp nhỏ có cửa thông sang kho, bên trái là phòng ngủ có sẵn giường cùng một giá sách bụi phủ đầy. Đủ cho một cuộc sống giản đơn.

Với nhiều người, đây chỉ là một căn nhà gỗ cũ tầm thường giống như hàng ngàn căn nhà tương tự rải rác khắp các vùng ngoại ô. Nhưng với Vy, ngay từ khoảnh khắc đứng trước ngưỡng cửa, cô đã linh cảm nơi này từng chứa rất nhiều câu chuyện chưa được nói ra, và có thể, rất nhiều nỗi cô đơn không chỉ của riêng mình. Cô ký luôn hợp đồng thuê, biết trước nó sẽ trở thành nhà giam cho linh hồn đang chứa đựng đầy mặc cảm tội lỗi của mình. Một tuần sau, cô bỏ lại tất cả, chỉ xách theo một vali rồi lên tàu đến Kirkkosaari, không mang theo bất cứ thứ gì liên lạc với thế giới mà mình đang trốn chạy.

Kirkkosaari là một hòn đảo nhỏ với vài nghìn dân, diện tích không quá năm chục dặm vuông. Lần đầu vào trung tâm thị trấn để mua vài thứ đồ thiết yếu, Vy đã đi lạc ra đến tận ngoài bờ biển. Sau bao nhiêu nỗ lực chỉ dẫn của Elias, cuối cùng cô vẫn cứ mù tịt trong chuyện xác định phương hướng dù ở bất cứ nơi nào. Càng xa trung tâm, nhà cửa trông càng cũ kỹ, nằm cách nhau cả một quãng rừng. Thỉnh thoảng cô mới gặp một người đi bộ, họ chào hỏi thân thiện nhưng luôn giữ khoảng cách đủ xa. Khi biết mình nhầm đường, cô vẫn đi tiếp rồi ngồi trên ghềnh đá sát biển đến tận khi mặt trời gần lặn mới nghĩ ra là mình không hề mang theo thứ gì phát sáng. Bóng tối ập xuống khi cô đang ở giữa rừng, hoàn toàn không biết phải đi đường nào vì xung quanh giống hệt nhau. Cô cứ đi như một kẻ mù, dù không cảm thấy sợ nhưng người thì bầm dập vì những cú ngã như trời giáng, cho đến khi nhìn thấy ánh sáng le lói hắt ra từ một căn nhà…

“Xoạch”.

Cuốn sách rơi xuống đất làm Vy giật mình thức dậy, mới biết cô đã ngủ thiếp đi. Không biết mấy giờ rồi. Cô nhặt cuốn sách để lên ghế rồi đi sang bếp định pha một cốc cà phê. Khi đã đứng trong gian bếp lạnh như băng, cô ngẩn người vì thấy có gì khác khác. Phải mất một lúc cô mới nhận ra rèm cửa sổ đang mở nửa chừng, và ánh trăng bàng bạc chiếu vào trong. Lâu lắm rồi cô không thấy trăng, hoặc là nó vẫn luôn ở đó, chỉ là cô không nhìn thấy. Vầng trăng gần tròn trông như bị mắc kẹt vào những cành sồi già trụi lá, cố vặn mình để thoát ra mà không được.

Vy bật bếp đun nước, ngọn lửa bùng lên tạo cảm giác ấm hơn một chút. Mấy năm làm marketing cho một công ty quốc tế với những yêu cầu dồn dập bất kể ngày đêm đã khiến cô hình thành thói quen uống cà phê buổi tối, dù ngày xưa chỉ một cốc vào giờ trưa cũng có thể khiến cô mất ngủ. Thứ đồ uống kích thích ấy luôn khiến cô thấy thư thái dễ chịu hơn, tưởng như áp lực cũng nhẹ bớt mấy phần.

Cô cầm cốc cà phê nóng sực mới pha, đứng tựa vào bệ bếp nhìn ra ngoài cửa sổ. Hai hàng dấu chân in trên tuyết, có vẻ như một con nai mới ghé qua kiếm thứ gì ăn. Vy biết thỉnh thoảng bọn thú hoang vẫn đến gần ngôi nhà, nên hay để trái cây ngoài đó. Mấy hôm nữa nhiệt độ giảm sâu hơn, cô sẽ cần đi mua những thứ hạt khô cho chúng. Linh vẫn thường làm vậy, khi hai đứa còn sống trong căn hộ sinh viên ngay sát rừng ở Rauma.

Một cơn gió mạnh thổi qua, tuyết trên cành thông rơi xuống rào rào. Dưới ánh trăng mờ ảo, khoảng rừng sau nhà mang một vẻ ma quái gì đó khó gọi tên. Khi đám thông thôi không lay nữa, Vy chợt thấy một đốm sáng ở giữa những lá cành rập rạp. Và một bóng người. Đốm sáng khẽ rung, giống ánh nến trong chiếc đèn lồng mà khung chắn gió không kín hẳn. Bóng người cũng vậy, không rõ hình dạng mà giống như một vệt sẫm đứng im giữa rừng, tách khỏi bóng tối chung quanh như một mảnh trời đêm bị cắt rời.

Một ý nghĩ bất chợt ập đến, thúc giục Vy ra ngoài, tới gần để xem đó là ai. Cô khoác vội chiếc áo bông treo sau cửa rồi với cây đèn bão vẫn để trên tủ bếp, đi ra theo lối cửa kho. Cánh cửa ít được dùng kêu cót két, âm thanh trở nên quá lớn trong khung cảnh hoàn toàn tĩnh lặng. Không khí lạnh tràn vào phổi ngay khi cô mở cửa, sắc và sạch đến mức làm cô thấy đầu óc mình tỉnh táo hơn cả khi uống hớp cà phê nóng đầu tiên.

Tuyết đã phủ kín các bậc thềm lẫn trên tay vịn lan can bằng gỗ. Mắt cô mở to, nhìn đăm đăm về phía đốm sáng như sợ nó sẽ biến tan đi. Càng tiến gần đến rừng, bóng tối càng đặc quánh, đánh bại hoàn toàn ánh trăng yếu ớt. Cây đèn bão của Vy chỉ chiếu được một đoạn ngắn trước mặt, bị nuốt chửng bởi những thân thông thẳng đứng. Đốm sáng kia vẫn lơ lửng bập bềnh nhưng lúc này trông có vẻ xa hơn. Đúng ra là nó đang trôi chầm chậm, mỗi lúc lại xa Vy hơn một chút.

“Có ai ở đó không?” Vy gọi khẽ. Tiếng cô mỏng và lạc lõng, tan vào rừng trước khi kịp vọng lại.

Không có lời đáp, nhưng có tiếng lạo xạo của bước chân giẫm lên tuyết mới. Vy như bị hút về hướng đó, cô giơ cao cây đèn rồi bước tiếp. Khi nhìn thấy dấu chân đầu tiên, một luồng lạnh chạy dọc sống lưng cô, không hẳn là sợ hãi, mà giống cảm giác khi đứng trước con đường một chiều không thể quay đầu. Vy siết chặt tay cầm đèn, tay kia ép chặt vào ngực, rồi cô bước thêm một bước nữa, dấn thân vào bóng tối.

Cô giẫm lên các dấu chân để không phải sục vào trong tuyết, tim đập chậm nhưng nặng nề. Từ sau lần bị lạc trong rừng đó, cô trái lại không còn thấy sợ bóng tối như trước nữa. Rừng xung quanh dần thưa ra, những thân thông cao lùi về hai bên, nhường chỗ cho một khoảng trống mờ mịt. Gió thổi nhẹ, làm tuyết trên các tán thông rơi lả tả, rơi cả vào trong cổ áo không có khăn quấn kín của Vy. Cô không thấy lạnh, chỉ thấy một sự thôi thúc gần như làm cho mặt mình nóng bừng lên. Rồi, giữa màn trắng xám ấy, Vy nhìn thấy một lối mòn. Đó là một con đường đất hẹp, mùa đông phủ đầy tuyết nhưng vẫn lộ ra hình dáng cong cong quen thuộc của một lối đi từng được nhiều người sử dụng. Dấu chân dẫn thẳng vào đó và… biến mất. Cô soi đèn ra xung quanh, không thấy một dấu vết gì, như thế người đó đã bốc hơi lên trời vậy.

Đốm sáng cũng không còn. Có ánh đèn thấp thoáng phía xa xa, nhưng không phải đốm sáng mà cô vẫn đi theo. Nó đã biến mất cùng lúc với dấu chân kia. Rốt cuộc vì sao “nó” dẫn cô đến đây rồi mất dạng, “nó” muốn cho cô thấy thứ gì?

Phía cuối lối mòn, một quả đồi thấp hiện ra. Trên đỉnh đồi, nhà thờ bằng đá đứng lặng lẽ, những bức tường xám sẫm nổi bật lên trong ánh trăng. Vy lập tức tin đó chính là ngôi nhà thờ mà tin nhắn kia nhắc tới. Trên triền đồi, nghĩa trang trải rộng tới tận bìa rừng nơi cô đang đứng. Vầng trăng hiện ra ngay trên nóc tháp chuông, bao trùm lên tất cả một màu bạc như trong cảnh mộng.

Cô dừng lại một phút, rồi bước vào nghĩa trang.

Bia mộ cao thấp lớn nhỏ khác nhau, sắp thành lối bàn cờ, chính giữa có một con đường nhỏ trồng hai hàng sồi cổ thụ dẫn lên đỉnh đồi. Chữ khắc trên nhiều tấm bia đã bị thời gian và băng giá bào mòn, chỉ còn lại vài ký tự cách quãng, những cái tên mà có lẽ không còn ai nhớ. Thỉnh thoảng lại có một khu mộ gia đình với hơn chục tấm bia được làm cùng kiểu với nhau. Vài ngôi mộ vẫn còn nến đang cháy dở, dù tuyết cũng đã phủ kín xung quanh khiến nó mang dáng vẻ bị lãng quên như những ngôi mộ khác.

Con đường dẫn cô lên cao dần, về phía nhà thờ. Gió thốc tới làm lá sồi khô rơi lả tả. Có một thời Vy với Linh hay đi nhặt quả sồi khô lúc cuối thu để thêm vào bộ sưu tập “những mùa dấu yêu qua mất” của mình. Những khi không có việc gì làm, hai đứa lại giở ra xem, thậm chí còn nói được là loại thông này mình lấy ở đâu, loại sồi kia mọc ở vùng nào, hay những bông hoa khô đã bạc cả màu được tìm thấy khi hai đứa đi hái nấm lần đầu… Những trò ngớ ngẩn của hai đứa ngẩn ngơ, có lần Vy bảo Linh như vậy rồi hai đứa cười ngặt nghẽo suốt cả chiều.

Lên tới đỉnh đồi, Vy thở dốc. Cô phủi bớt tuyết phủ trên một chiếc ghế băng nằm chếch trước cửa nhà thờ rồi ngồi xuống. Bốn bề vắng lặng, không có âm thanh gì ngoài tiếng xào xạc của lá sồi. Một nỗi cô đơn bất ngờ ập đến làm ngực Vy tưởng như trống hoác. Mùi khói bạch dương bảng lảng trong không khí, thứ luôn gợi lên cảm giác ấm cúng thân thuộc đó giờ đây chỉ càng khiến cô thấy mình chẳng có chốn nào thuộc về ở cái nơi tận cùng thế giới này.

In the bleak midwinter,

Frosty wind made moan,

Earth stood hard as iron,

Water like a stone…

Tiếng hát khe khẽ vẳng đến cùng luồng gió làm Vy rùng mình, ai lại có thể hát ở nghĩa trang vào giờ này kia chứ? Cô hình dung đến những câu chuyện ma quái, nơi thần chết luôn xuất hiện dưới lốt một chàng trai đẹp muộn phiền ngồi hát dưới ánh trăng mờ ảo cạnh mộ một người vừa được tiễn về thế giới bên kia. Nhưng dù đó có là thần chết đi nữa, thì cô cũng vẫn thấy bớt cô đơn trong đêm đông hoang lạnh.

Snow had fallen, snow on snow,

Snow on snow,

In the bleak midwinter,

Long ago.

Cô đứng dậy, đi quanh góc tường nhà thờ về nơi tiếng hát phát ra. Dưới gốc cây sồi cổ thụ mọc sát bức tường đá vút cao có một chiếc bàn gỗ, cạnh đó có một người ngồi xoay nghiêng về hướng Vy, tay đang nghịch thứ gì giống như các quân cờ để trên bàn. Cảnh tượng đó vừa thực vừa ảo khiến cô đứng chôn chân tại chỗ, không biết nên đến gần hơn hay chạy đi trước khi người đó vung chiếc mũ trùm đầu để lộ nụ cười hiểm ác lao đến kéo cô về địa ngục.

– Cô muốn thử một ván không?

Người đó nhận ra sự hiện diện của Vy, quay sang phía cô đang đứng. Giọng nói không có vẻ gì là ngạc nhiên, như thể một người bạn cũ đang đợi và biết là cô sẽ có mặt ở đó vào giờ đó vậy.

Vy bước thêm vài bước. Đó là một người đàn ông ở tầm tuổi 40, tóc xoăn lòa xòa trên khuôn mặt còn bạc hơn cả ánh trăng. Mắt anh ta không đỏ và môi cũng không có vệt máu khô như trong truyện kinh dị thường mô tả.

– Không phải anh vừa chui lên từ mấy nấm mồ kia chứ?

Vy hỏi một cách thờ ơ rồi ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Mặt bàn phủ đầy tuyết, nhưng bàn cờ thì đã được dọn sạch trơn.

– Nếu đúng thế thì cũng có gì quan trọng đâu, phải không?

Anh ta bật cười.

– Không quan trọng thật, chỉ là tôi chưa bao giờ hình dung mình lại có ngày ngồi chơi cờ với một linh hồn trong nghĩa địa giữa mùa đông trắng xóa thế này.

Cô nói rồi cầm lấy một quân mã. Quân cờ ấm một cách lạ thường, hoặc tay cô đã quá lạnh để có thể thấy thứ gì đó lạnh hơn.

Anh ta nhìn theo hướng tay Vy, ánh mắt dừng lại vài giây rồi lại cúi xuống bàn cờ.

– Cô luôn chọn mã trước sao?

– Nó đi xiên, nhảy qua đầu chướng ngại. Tôi thích những thứ không đi theo lối mòn.

– Thường thì những người thích mã là những người đã từng bị dồn vào góc.

Giọng anh ta chậm rãi, nghe như đang tự nhủ chứ không phải là đối thoại.

Vy đặt quân mã về ô cờ mới, để lại một vệt nước nhỏ tan ra trên mặt gỗ.

– Còn anh? Anh chơi quân nào trước?

Người đàn ông không trả lời ngay. Anh ta nhấc một quân tốt lên, dùng ngón trỏ gõ nhẹ lên đầu gỗ, tạo ra một âm thanh khô và đều, như tiếng đồng hồ đếm ngược.

– Thực ra tôi không định chơi. Anh ta nói. – Tôi chỉ ngồi đây để xem ai dám nhận lời thách đấu của mình.

Vy bật cười khẽ.

– Dám? Ý anh là một người can đảm?

Anh ta ngẩng lên nhìn cô. Ánh mắt ấy không bộc lộ cảm xúc gì, chỉ đơn giản là một cái nhìn rất thẳng, như thể đã thấy Vy ở đây từ rất lâu rồi.

– Những người can đảm, nhưng còn do dự. Nếu đã có quyết định thì không thể chơi cờ.

Gió thổi mạnh hơn, những cành sồi phía trên đầu họ đập vào tường đá nghe lạch cạch. Những quân cờ chắc nịch chỉ hơi chao đảo nhưng không đổ.

– Nghĩa là anh đã gặp nhiều người ở đây, trong cùng bối cảnh thế này.

Vy hỏi mà như không hỏi.

– Cũng không nhiều. Chỉ những người nghe thấy lời gọi mới đến đây.

– Lời gọi nào?

Anh ta nghiêng đầu, suy nghĩ như đang cân nhắc xem có nên nói tiếp hay không.

– Chẳng phải đã có thứ gì đó dẫn cô đến hay sao?

Vy im lặng. Bàn tay đang giữ một quân cờ khẽ siết lại.

– Ban nãy là anh… hát đấy à?

– Ồ, cô nghe thấy à?

Anh ta trả lời Vy bằng một câu hỏi khác, rồi lại khẽ cười, lẩm bẩm. – Mà, tất nhiên rồi. Tất nhiên rồi.

Vy hít sâu, hơi lạnh làm mũi cô hơi đau. Cô di chuyển một quân xe.

– Chuyện này thật kỳ quái, anh biết đấy, uhm, ý tôi là ngồi ngay bên nghĩa địa chơi cờ với một người lạ trong một đêm đông. Có lẽ tôi mất trí rồi.

Người đàn ông nhìn thẳng vào Vy. Ánh mắt anh ta có vẻ gì giễu cợt.

– Nhưng cô không sợ, đúng không?

– Sợ gì?

– Bước vào một trò chơi không có luật rõ ràng.

Vẻ giễu cợt trong mắt anh ta biến mất, thay vào đó là một biểu cảm gì đó giống như sự xác nhận.

– Tôi nghĩ mình đã trải qua những thứ còn đáng sợ hơn thế rồi. Vy nói nhỏ, giọng hơi nghẹn ở cuối câu.

– Nên cô sẽ tiếp tục chơi, đúng không?

Người đàn ông chuyển quân tượng đến góc trái bàn cờ, bắt mã.

Vy không trả lời, chỉ chú tâm vào các nước cờ. Người đàn ông khẽ gõ một nhịp gì đó lên mặt bàn. Ngọn lửa trong chiếc đèn bão dường như cũng đứng yên. Thời gian cứ vậy lặng lẽ trôi qua, chỉ có tiếng quân cờ chạm xuống mặt bàn khi di chuyển. Bàn cờ giờ đây trống trải hơn, nhưng cũng rõ ràng hơn, không còn nhiều nước để né tránh.

Vy đặt tay lên quân hậu, dừng lại. Trong khoảnh khắc rất ngắn, cô nhìn thẳng vào người đàn ông.

– Anh có tin vào cơ hội thứ hai trên bàn cờ không?

– Không. Không có sự tha thứ trong một cuộc đấu. Anh ta dừng lại một nhịp rồi nói tiếp. – Tuy nhiên, người ta có thể học cách không lặp lại cùng một sai lầm ở ván tiếp theo.

– Anh luôn thắng chứ?

Người đàn ông lắc đầu.

– Không. Nhưng tôi luôn biết mình sẽ thua ở đâu.

Vy gật đầu rất khẽ, như thể câu trả lời ấy không làm cô ngạc nhiên.

– Anh có bao giờ bỏ dở một ván cờ không?

– Có.

– Khi nào?

– Khi người đối diện không còn muốn chơi tiếp, mà chỉ đang chờ cho ván cờ kết thúc thay cho họ.

Vy mím môi. Cô nhìn bàn cờ rất lâu, nhưng tâm trí không còn ở nơi đó nữa. Rồi cô nhấc quân hậu.

– Tôi từng nghĩ, nếu mình đủ kiên nhẫn, mọi thứ sẽ tự ổn lại.

Quân hậu được đặt xuống. – Nhưng hóa ra, có những lúc phải tự mình kết thúc.

Người đàn ông nhìn vào bàn cờ. Vua của anh ta đã không còn đường thoát. Anh ngẩng lên, môi hơi mím lại thành nửa nụ cười.

– Cô chơi hay lắm.

Vy đứng dậy, xỏ tay vào găng. Tuyết bắt đầu rơi trở lại, nhẹ và đều.

– Tôi nên về.

Anh ta vẫn ngồi yên, cũng không nhìn lên.

– Chúng ta sẽ gặp lại nhau.

– Anh chắc thế à?

Người đàn ông mỉm cười, một nụ cười phảng phất chút buồn.

– Không. Nhưng thường thì mọi người vẫn thế.

Vy cầm chiếc đèn rồi quay đi. Trước khi đến khúc quanh của góc nhà thờ, cô dừng lại.

– Tôi quên chưa hỏi anh tên gì?

Không nghe thấy tiếng trả lời, cô quay lại. Chiếc bàn gỗ vẫn ở đó cùng những quân cờ, nhưng người đàn ông đã biến mất. Trên nền tuyết trắng hiện lên năm chữ cái. Rowan.

***

Vy tỉnh giấc khi trời đã sáng hẳn. Ánh sáng yếu ớt xuyên qua tấm rèm cửa sổ ngay đầu giường ngủ, làm cho căn phòng bớt đi vẻ u ám mọi ngày. Cô không dậy ngay mà cứ nằm đó nhìn lên trần nhà ghép bằng những tấm gỗ đã ngả màu. Một giấc mơ kỳ lạ – người đàn ông ngồi hát cạnh nhà thờ trong đêm đông vắng vẻ, những tấm bia mộ phủ đầy tuyết trắng nằm dưới những cành sồi thưa lá. Và bài hát nữa, Vy còn nhớ từng từ trong đó.

In the bleak midwinter,

Frosty wind made moan,

Earth stood hard as iron,

Water like a stone…

“Có những lúc phải tự mình kết thúc”. Cô đã nói như vậy với anh ta, hay đúng hơn là tự nói với mình. Nhưng kết thúc thế nào đây?

Một cái rùng mình khiến Vy nhận ra căn buồng lạnh như một nấm mồ, chắc lò sưởi tắt mất rồi. Cô mặc thêm áo rồi đi ra ngoài. Tro trong lò còn dày hơn cả tuyết ngoài sân, Vy nhớ ra mình chưa từng dọn dẹp nơi này từ khi chuyển tới. Chiếc xẻng nhỏ và chổi quét lò nằm ngay trong góc tường cũng đã bị nhện chăng mấy tầng. Vy quỳ xuống, cầm xẻng xúc tro đổ vào xô, không dám thở mạnh trước những mảnh tro xám mỏng nhẹ như không khí ấy. Cô nghĩ đến những ngày tháng qua của mình, niềm vui sống cũng đã bị đốt thành tro một cách dần dần, mà những lụi tàn sót lại chưa bao giờ được dọn đi.

Công việc đơn giản, lặp đi lặp lại, vậy mà lại mang đến cho cô một cảm giác trật tự hiếm hoi. Khi chiếc xô gần đầy, Vy chợt thấy một chiếc chìa khóa kiểu cũ lộ ra dưới sàn lò sưởi. Chiếc chìa khóa đã xám đen lại vì hơi nóng lâu ngày. Cô cầm nó lên, dùng hai ngón tay xoa cho hết lớp muội bám bên ngoài rồi giữ nó trong lòng bàn tay. Hơi ấm còn sót lại lan sang tay cô, mang tới một cảm giác dễ chịu bất ngờ.

Cô đặt chiếc chìa khóa lên trên ghế bập bênh rồi lau dọn nốt và đốt lò. Chẳng mấy chốc mà mùi khói đã bao trùm lấy căn nhà như một tấm chăn ấm áp thơm tho được nắng. Vy pha cà phê rồi đứng ở cửa sổ bếp, đúng chỗ cô nhìn thấy đốm sáng hôm qua. Dấu chân người chạy dài từ bìa rừng đến tận hàng hiên sau nhà. Tuyết đã phủ một lớp mỏng bên trên, nhưng những dấu chân rõ ràng mới có đêm qua.

Đó không phải một giấc mơ.

Cô quay vào phòng lớn, cầm chiếc chìa khóa lên. Chiếc chìa khóa nặng hơn vẻ ngoài của nó, phần đầu được uốn thành ba vòng tròn lồng vào nhau. Vy xoay xoay nó giữa các ngón tay, biết chắc không có cánh cửa nào trong căn nhà này dùng loại ổ khóa cũ rích từ thời Napoleon đó. Cô nhìn quanh, không chắc mình đang tìm cái gì, hay chỉ đơn giản là không muốn đứng yên thêm nữa. Mắt cô dừng lại ở chiếc tủ đồng hồ. Sự vĩnh cửu – thời gian. Chiếc chìa vừa khít với ổ khóa cánh cửa nằm chân tủ.

Vỹ xoay tay sang phải, ổ khóa không kháng cự, chỉ phát ra một tiếng tách rất nhỏ, gọn gàng, như thể đã chờ đúng khoảnh khắc này từ lâu. Bản lề hoen rỉ làm cánh tủ mở ra kêu ken két. Bên trong không có nhiều đồ. Mấy khung ảnh ép vào nhau dựng sát vách trong cùng. Một chiếc hộp gỗ được chạm khắc, một chồng báo đã ố vàng, bên trên cùng là một cuốn sổ bìa vải sẫm màu, đặt nằm ngang ngay ngắn. Vy cầm cuốn sổ lên, đi ra chiếc ghế. Vải bìa thô ráp màu nâu thẫm với các góc đã sờn mang theo hơi lạnh của căn nhà thiếu vắng sự sống con người.

Cô nhìn chằm chằm vào cuốn sổ một lúc rồi mới mở ra. Trang đầu chỉ có mấy câu thơ viết bằng bút mực, nét bút rệu rã và đứt gãy như của một người mà cả thể xác và tâm hồn đã mệt nhoài:

Trong bóng chiều khi mặt trời đã tắt

Những rã rời, vụn vỡ gối lên nhau

Hơi thở tàn, thiên nga than khóc

Ta làm gì cho hết cuộc đời sau?

Mấy trang sau là những hình vẽ gì đó mà Vy không hiểu, trông giống như kết quả của việc dùng cả nắm bút chì màu chà lên giấy chỉ để giải tỏa tâm trạng đang buồn bực. Rồi tới một trang gần như kín chữ:

Đầu nặng trĩu… cứ như tôi đang chìm xuống sàn nhà. Không biết trời ấm hay lạnh, có tuyết hay không… Ánh sáng từ cửa sổ chói quá hay tối quá cũng không còn khác gì nhau. Mọi thứ đều giống như… như những mảnh vụn vỡ nát mà tôi không nhặt được. Bác sĩ nói viết ra… để nhẹ đầu… nhưng làm sao mà nhẹ được khi mọi thứ cứ đầy chật. Tôi nhìn ra cửa sổ, nhìn những đốm trắng bay trong nắng. Chúng tự do, còn tôi thì không.

Tôi đã cố gắng làm một điều gì đó, nhưng ngay cả việc cầm bút viết thế này cũng khiến tôi mệt mỏi vô cùng. Những bóng người ngoài cửa sổ… là ai? Không ai. Chỉ là gió hay là bóng tôi? Tôi không biết. Thỉnh thoảng tôi tự hỏi: nếu tôi biến mất, liệu ai sẽ nhớ? Không có gì rõ ràng… chỉ có cái lồng trống trong ngực và những ngày trôi qua không tên.

Tôi viết… viết mọi thứ rời rạc, ý nghĩ giống như một mớ lộn xộn quấn vào nhau. Có khi tôi dừng lại, nhìn ra rừng, tuyết phủ kín cành cây. Đẹp quá, nhưng tuyết lạnh như tim tôi vậy. Đôi lúc tôi bỗng khóc dù chẳng vì điều gì. Bác sĩ nói: “Viết đi, cứ viết hết.” Nhưng viết sao cho hết… có quá nhiều. Một ngày nữa trôi qua, một tách cà phê nguội lạnh, một trang giấy nữa… Và tôi vẫn ngồi đây, giữa khoảng trống, giữa tiếng gió… giữa chính mình mà tôi không nhận ra.

Cô lật sang trang tiếp theo. Một bản đồ nhỏ được vẽ nguệch ngoạc, vài ký hiệu kỳ lạ, con đường mòn dẫn ra bờ biển, chạy qua ngôi nhà nằm trơ trọi giữa rừng. Một luồng cảm giác kỳ quái chợt ập đến, cô thấy người mình run lên dù đang ngồi ngay gần lò sưởi. Cô gập cuốn sổ lại, muốn trả nó về chỗ cũ, song lại có thứ gì đó thôi thúc cô đọc tiếp.

Đêm qua lại là giấc mơ đó. Cha mẹ tôi đứng ngay trước căn nhà cũ… Mặt họ lạnh như băng, mắt họ trống rỗng dù tôi kêu khóc và xin họ giúp. Mấy đứa trẻ lớn vẫn đuổi theo sau, có thứ gì đó ném về phía tôi… Chúng cười và hò hét. Tôi không biết mình đã làm gì sai. Mọi thứ đều sai. Tôi… tôi luôn làm sai.

Ngay cả tình yêu mà tôi dành cho người đó cũng sai. Tôi từng nghĩ cuối cùng cũng có người hiểu được mình. Nhưng… hóa ra anh ấy chỉ coi tôi như một thứ đồ chơi lạ. Chơi chán thì vứt bỏ. Tim tôi vỡ ra một mảnh… và vết thương cứ nằm nguyên đó, không liền lại. Tôi cô độc. Luôn cô độc. Mọi người đều khác tôi. Tôi… tôi không biết mình phải sống thế nào.

Mỗi giấc mơ như một vòng lặp không lối thoát. Cha mẹ, trường học, những lời nói cay độc… những cuốn truyện bị xé rách… đôi giày bị vùi trong tuyết. Những cái nhìn thù hằn căm ghét…. Và biển, biển cũng không cần tôi, biển trả tôi về. Tôi thức dậy, mồ hôi ướt đẫm, tim đập như muốn rách lồng ngực.

Bác sĩ nói: “Viết ra, để trút ra.” Nhưng mọi thứ vẫn tắc nghẽn bên trong.

Không ai có thể giúp tôi. Không ai muốn giúp tôi. Sẽ chẳng ai bận tâm nếu tôi biến mất.

Mắt Vy nhòe đi. Linh cũng đã từng viết cho cô như vậy, “Sẽ chẳng ai bận tâm nếu Linh biến mất, Vy à”.  Cơn đau ập đến như một gọng kìm bóp chặt lấy tim, tay cô run lên làm rơi cuốn sổ. Vẫn không sao khóc được, nên ngực càng đau tức. Không, cô sẽ không làm gì để nhẹ bớt nỗi đau, hãy cứ để nó tàn phá cuộc đời cô. Đó là sự trừng phạt mà cô phải mang theo chừng nào còn sống tiếp.

***

Quán cà phê nông trại nằm ngay cạnh con đường nhỏ chạy xuyên rừng, chính là căn nhà mà Vy đã gặp khi bị lạc. Cô đi qua đó vào một buổi sáng ấm áp, khi mặt trời dường như đã thức hẳn sau những tháng ngủ vùi. Tuyết phủ một lớp dày trên mái, trên tay vịn ngoài hiên và hàng rào bao quanh căn nhà gỗ hai tầng, lấp lánh dưới ánh nắng như hàng triệu mảnh vỡ pha lê. Cây phong cổ thụ với tán rộng thênh thang vốn bao trùm lấy cả căn nhà vào mùa hè lúc này chỉ còn những cành khô trụi lá, mang một vẻ cứng cỏi u sầu của người kinh qua sương gió.

Người chủ quán đang sắp xếp lại đồ trên giá, thấy có khách đẩy cửa bước vào thì quay lại. Nhận ra Vy, bà cười đôn hậu, đôi mắt hấp háy niềm vui. Sau gần năm thập kỷ sống ở xứ Bắc Âu lạnh lẽo, bà vẫn giữ được cái vẻ cởi mở dễ gần của một người sinh ra ở miền Nam Úc. Theo chồng đến Kirkkosaari và sống gần như biệt lập ở nông trại mà ông được thừa kế, bà gắn bó với nó, yêu thương nó tới mức không muốn chuyển đi đâu nữa dù chồng đã qua đời nhiều năm trước, còn hai đứa con thì đều đã có nhà riêng ở thành phố khác và muốn đón mẹ đến sống cùng.

Ngày nắng ấm nên mấy chiếc bàn ngoài ban công đều đã có khách ngồi, dù ở đó cũng chỉ đỡ lạnh hơn ngoài trời chút đỉnh. Vy bỏ chiếc áo khoác cồng kềnh rồi chọn một chiếc bàn trong góc khuất, nơi cửa sổ nhìn thẳng ra khu vườn bên hông căn nhà với những cây cành khẳng khiu giờ chỉ còn được tô điểm bằng những đốm bông tuyết trắng. Chưa bao giờ cô hết ngạc nhiên với sức sống của cây cối ở cái xứ này, chúng trông như đã chết suốt mùa đông nhưng bộ rễ cắm sâu dưới đất vẫn tràn trề nhựa sống. Không như con người, bên ngoài vẫn cười nói chuyện trò, nhưng có lẽ rất nhiều tâm hồn đã chết từ lâu.

Hôm đó khi Vy tới gõ cửa, Sue còn đang bận rộn với cả núi việc nhà. Quán đóng cửa lúc 4 giờ chiều, nhưng ngày thường chỉ có một mình nên bà phải xoay sở đến 9 giờ mới dọn dẹp xong. Bà gác hết những việc đó lại, lấy cồn sát trùng lau các vết thương cho Vy rồi băng lại những chỗ toạc trên mặt và tay cô. “Cũng may mà không gãy xương đấy, thỉnh thoảng ở đây lại có người đi rừng trượt chân thôi mà cũng bó bột mấy tháng trời”, bà nói rồi ấn vào tay Vy cốc trà quế nghi ngút khói. Khi biết Vy chưa ăn tối, bà nhất quyết giữ cô lại dùng bữa với mình. Vì việc ấy mà cô đoán bà không phải người Phần gốc.

Sống ở đây chín năm, Vy vẫn không sao hòa nhập được với người bản địa. Ngay cả với Elias, đôi lúc cô nghĩ anh là một thứ sinh vật huyền bí mà cô không thể nào hiểu được. Cô vẫn có bạn, nhưng phần lớn là người gốc Thụy Điển hoặc di dân từ nơi khác đến – từ những nền văn hóa tương đồng với nơi cô đã sinh ra. Có những lúc cô tưởng rằng mình đã nắm bắt được điều gì đó, nhưng hóa ra vẫn chỉ là biết một lớp rất hời hợt bên ngoài, còn cái cốt lõi thì không có cách gì chạm tới. Thế nên, cảm giác mình vẫn chỉ là người ở trọ không bao giờ xua tan đi được.

Trong khi ăn và suốt quãng đường lái xe đưa cô về sau đó, Sue kể cho cô nhiều chuyện về cuộc sống của mình trong những năm đầu đến Phần Lan, rồi nói hãy thỉnh thoảng ghé qua chỗ bà nếu thấy buồn. Vậy mà hơn một tháng rồi cô mới quyết định đến đây, cũng không phải để “đỡ buồn”. Không hiểu sao cô lại chắc chắn căn nhà được vẽ trong cuốn sổ chính là nơi này, dù chẳng có căn cứ gì mà khẳng định.

– Thế nào, đã quen hơn với cuộc sống ở đây chưa?

Sue đặt cốc trà quế lên bàn rồi ngồi xuống ghế đối diện, nhìn cô trìu mến. Tóc bà đã bạc hết cả, hoặc cũng có thể là xưa nay nó vẫn có màu bạch kim như vậy. Hai khóe mắt đầy nếp nhăn, khuôn mặt phúc hậu hiền từ đem lại cảm giác bà đã sống một cuộc đời bình yên hạnh phúc ở nơi này.

– Tuyết nhiều vậy chắc ít khách hơn hả bà?

Cô lảng tránh, trả lời bằng một câu hỏi khác.

– Cũng tùy đấy, ngày thường thì vắng hơn cuối tuần một chút. Những hôm tuyết lớn thì đúng là gần như chẳng có ai qua.

– Tuyết lớn mà bà vẫn mở quán à?

– Đóng hay mở có khác gì nhau đâu, ta vẫn ở đây. Biết đâu lại có ích cho ai đó lỡ độ đường.

Vy mỉm cười, nhấp một ngụm trà. Hơi ấm len lỏi vào từng ngõ ngách trên cơ thể, còn hương quế gợi lại trong cô một ký ức xa xôi nơi quán nhỏ giữa lòng Hà Nội.

– Căn nhà cháu đang ở… Bà có biết người từng sống ở đó không?

Sue hơi nhíu mày như phải nhớ tới một việc không nên gợi lại, rồi khẽ gật.

– Cũng lâu rồi, một người phụ nữ trẻ sống ở đó một mình.

Vy định hỏi nữa nhưng thêm hai khách mở cửa bước vào, Sue để cô lại đó với những suy nghĩ vẩn vơ trong tâm trí. Người phụ nữ trẻ sống một mình. Cuốn sổ với những dòng chữ đứt gãy ngả nghiêng. Hơi thở tàn thiên nga than khóc. Ta làm gì cho hết cuộc đời sau?

Cô cũng vậy, cô biết làm gì cho hết quãng đời sau?

Thời gian trôi đi chậm chạp, căn phòng dường như quá ấm cùng với mùi cà phê dễ chịu khiến Vy hơi buồn ngủ. Cô gối đầu lên tay rồi xoài người trên chiếc bàn, nhìn ra khoảng trống bên ngoài. Hồi còn đi học, cô vẫn thường nằm bò trên bàn như thế trong những giờ ra chơi mà trời lại đổ mưa, nhìn ra hồ Tây đếm bọn sâm cầm lặn ngụp.

– Tôi ngồi đây được chứ?

Tiếng nói vang lên ngay bên cạnh. Vy ngồi thẳng dậy, ngẩng đầu lên. Đó là Rowan, người đàn ông mà cô đã gặp hơn một tuần trước cạnh nhà thờ. Cô khẽ rùng mình.

– Anh có thật sao? Cô lầm bầm.

– Vậy ra cô vẫn nghĩ tôi là một hồn ma trong nghĩa địa?

Anh ta bỏ áo khoác ra sau lưng ghế rồi ngồi xuống mà không chờ Vy đồng ý. Các ngón tay của anh ta đỏ tấy lên, có vẻ anh ta vừa ở ngoài trời khá lâu.

– Cơn gió nào đã đưa cô tới đây thế? Ý tôi là ra khỏi cái thành lũy của cô để đến một chỗ nhiều người thế này.

Anh ta nheo nheo mắt nhìn cô, miệng hơi mỉm cười.

– Tôi vẫn ra ngoài đấy thôi, nên hôm đó mới gặp anh.

Vy thấy trong cổ họng mình khô khốc, cô nhấp một ngụm trà.

– Anh muốn uống gì không, thứ gì nóng nóng ấy?

– Cảm ơn cô, tôi đã gọi rồi. Có vẻ Sue đang bận, bà ấy sẽ sớm mang cho tôi thôi.

– Ồ, anh biết bà ấy à?

Vừa hỏi xong, cô đã lập tức thấy mình ngớ ngẩn. Những người sống trên đảo này chắc đều biết nhau cả, trong khi Sue lại còn là chủ quán cà phê. Song người đàn ông vẫn gật đầu, chừng như không muốn để Vy lúng túng.

– Bà ấy rất đáng mến phải không? Cô cần một người bạn như vậy đấy.

– Tôi không có ý định kết bạn với ai.

Vy ngoảnh ra ngoài cửa sổ để anh ta không thấy biểu cảm trên mặt mình. Nắng sắp tắt rồi.

– Vì sao vậy?

Anh ta nhìn Vy, song không có vẻ gì là tò mò.

– Đó không phải việc của anh.

Giọng cô hơi nghẹn lại. Người đàn ông phớt lờ sự khó chịu của Vy, anh ta đứng dậy đi ra phía quầy bán hàng rồi quay lại với một cốc cà phê và hai chiếc bánh cuộn pulla phủ đầy đường quế. Anh ta đẩy một chiếc về phía Vy.

– Pulla của Sue làm rất đặc biệt, cô nên thử.

Anh ta nói với cô như thể bọn họ đã quen biết nhiều năm, đã ngồi cà phê với nhau như thế này đến cả nghìn lần. Vy lắc đầu theo phản xạ, không muốn để cảm giác quen thuộc đó đánh gục mình.

– Tôi không đói.

– Tôi cũng không hẳn là đói. Anh ta bẻ một miếng bánh, nói chậm rãi. – Nhưng khi trong lòng trống trải thì nên có một thứ gì đó lấp vào.

Vy cau mày. – Anh nói chuyện với ai cũng thế à?

– Không, chỉ với những người đang không ổn thôi.

Cô bật cười khẽ, nhưng tiếng cười giống một tiếng thở hắt ra hơn.

– Anh đâu biết gì về tôi.

– Đúng là tôi không biết gì về cô. Anh ta nhún vai. – Nhưng tôi biết cái nhìn ấy. Cái nhìn của người luôn ngồi quay mặt ra cửa sổ, như thể nếu nhìn thẳng vào trong phòng thì sẽ có thứ gì đó không chịu nổi hiện ra.

Vy siết chặt tay dưới gầm bàn. Một lát sau cô nói, giọng nhỏ đi:

– Ở ngoài kia dễ thở hơn. Ít nhất thì mọi thứ cũng rõ ràng. Tuyết rơi là tuyết rơi. Lạnh là lạnh.

– Tức là bên trong thì mập mờ hơn?

– Bên trong thì… mọi thứ xoắn vào nhau thành một vùng hỗn độn.

Người đàn ông không nói gì thêm. Anh nhấp một ngụm cà phê, giữ khoảng lặng trôi qua đủ lâu để nó trở nên khó chịu.

– Vậy sao cô không bước ra ngoài ấy? Cuối cùng anh hỏi.

Nghe như có tiếng băng nứt gãy bên ngoài, hoặc là có thứ gì đó vừa đứt gãy trong Vy. Cô quay sang nhìn anh ta.

– Tôi… không xứng đáng. Tôi không thể.

– Không thể hay là không cho phép bản thân? Ai cũng có quyền lựa chọn.

Vy im lặng rất lâu, không muốn tiếp tục cuộc đối thoại này vì biết nó sẽ đi đến đâu. Cuối cùng cô đưa tay lên, bẻ một miếng pulla nhỏ. Một vị ngọt dịu lan trong miệng.

– Tôi chợt nhận ra là mình chưa bao giờ hỏi vì sao người Phần lại ăn pulla khi uống cà phê.

– Linh hồn của pulla là bạch đậu khấu, nó cân bằng vị đắng của cà phê. Nói một cách văn vẻ thì nó tượng trưng cho cuộc đời, có những lúc đắng cay, khắc nghiệt nhưng cũng luôn có những khoảnh khắc ngọt ngào, ấm áp để xoa dịu tâm hồn. Vì thế mà chúng ta sống được.

Vy cười nhạt, cơ bản đó toàn là những điều sáo rỗng. Ngoài kia, ánh nắng đã tắt hẳn nhưng vẫn còn một quầng sáng hồng hồng ở phía chân trời. Người đàn ông tiếp tục nói gì đó về thời tiết, về mùa đông năm nay sẽ kết thúc sớm, về việc Sue đang tính đổi loại cà phê mới nhưng tâm trí của Vy đã quay trở lại với cuốn sổ. Rốt cuộc thì người phụ nữ ấy tìm kiếm điều gì ở nơi này kia chứ? Một chỗ để tạm ngồi xuống giữa những ngày mỏi mệt rã rời? Một hy vọng cuối cùng về mối nối mong manh với thế giới bên ngoài, hay chỉ là một khoảnh khắc được nhắc nhở rằng cuộc sống bằng cách nào đó vẫn cứ tiếp diễn, bất chấp tất cả.

***

Đêm hôm đó bão tuyết đến bất ngờ. Mà có lẽ chỉ bất ngờ với Vy, vì cô không nghe dự báo.

Ban đầu, gió chỉ lướt qua rừng thông với tiếng rì rầm mơ hồ. Gió vốn là đặc sản của Phần Lan nên Vy đã quá quen, nhưng rồi nó mạnh dần, quật thẳng vào sườn nhà, len lỏi qua các khe gỗ cũ kỹ, rít lên những âm thanh dài và rỗng. Tuyết không còn rơi nữa, mà bị xé ra khỏi bầu trời, cuộn thành từng dải trắng mù mịt lao vào cửa kính. Mỗi lần gió đổi hướng, cả căn nhà lại rung nhẹ, phát ra những tiếng cót két trầm thấp, như xương khớp của một cơ thể già nua không biết sẽ bị bẻ gãy lúc nào.

Vy ngồi im trước lò sưởi, lắng nghe. Trong những khoảng lặng giữa hai cơn gió lớn, cô nghe được cả tiếng tuyết va vào mái ngói, tiếng những cành thông vặn mình răng rắc đâu đó trong rừng. Có lúc, gió thốc mạnh đến mức lớp tuyết bám trên bệ cửa sổ bị cuốn phăng đi, để lộ mặt kính trần trụi, rồi chỉ trong vài nhịp thở sau đã bị phủ kín trở lại, dày hơn, nặng hơn. Thế giới bên ngoài liên tục bị xóa đi rồi vẽ lại, không hề hỏi ý kiến bất kỳ ai.

Lò sưởi nổ lách tách, từng khúc củi thông cháy sáng lên làm mặt Vy nóng bừng dù lưng cô lạnh ngắt vì những luồng gió lạnh cố len vào. Gió bỗng đổi giọng. Từ tiếng hú cao vút, nó trầm xuống, nặng nề hơn, đập vào cửa như những cú va có chủ ý. Cánh cửa kho bên hông nhà run lên bần bật, then cài kim loại va vào khung gỗ kêu lanh canh. Vy đứng dậy, đi xuyên qua bếp tới đó, kiếm sợi dây buộc chặt lại. Qua lớp gỗ dày, cô cảm nhận được từng đợt rung truyền vào lòng bàn tay, đều đặn và dai dẳng, như nhịp đập của cơn bão.

Cô nhìn qua cửa sổ. Ngoài kia, rừng đã biến mất. Không còn cây, không còn lối mòn, không còn phương hướng. Chỉ có một khối trắng xám chuyển động không ngừng, nuốt chửng mọi hình dạng quen thuộc. Bóng tối cũng không còn là bóng tối; nó bị xé vụn, trộn lẫn với tuyết và gió, tạo thành một tấm màn mờ đục khiến người ta không thể biết mình đang nhìn vào đâu. Cảm giác bị cô lập trở nên rõ ràng đến mức gần như hữu hình, như thể căn nhà này đã bị nhấc ra khỏi thế giới, đặt trơ trọi giữa một khoảng trống không tên.

Đây không phải lần đầu Vy gặp bão tuyết, nhưng là lần đầu cô gặp bão tuyết một mình. Gió và tuyết thét gào trong mấy tiếng liền, bền bỉ và lạnh lùng, như một phép thử kéo dài. Không sao ngủ được, cô dậy đun nước pha cà phê, chợt hiểu vì sao những đêm như thế này lại khiến người ta dễ nghĩ đến những điều tăm tối. Khi thế giới bên ngoài bị xóa sạch, thứ duy nhất còn lại để đối diện chính là những gì đang chất chứa bên trong.

Cuốn sổ vẫn nằm dưới đất. Cô cầm lên, mở liên tiếp mấy trang. Vẫn là những ghi chép rời rạc về căn nhà trong rừng, về những tuần dài âm u không thấy ánh mặt trời. Và rồi, cô dừng lại trước một trang vẽ phác thảo hình tháp chuông nhà thờ St. Michael. Nét chữ viết ở trang bên cạnh trông khác hẳn, trở nên gọn gàng một cách lạ lùng, như thể người viết đã rất tập trung. Cô cảm thấy như một cơn bão khác đang ập đến ngay trong mình.

Cũng có thể là tôi đã phát điên, nhưng đúng là tôi đã chơi cờ với người đàn ông đó ở nhà thờ lúc nửa đêm. Tôi chưa từng gặp anh ta trong thị trấn bao giờ… nhưng không sao, chí ít thì tôi cũng có ai đó bên cạnh mình dù chỉ trong chốc lát.

Tôi nhìn vào bàn cờ và thấy một mớ hỗn độn. Những đường chéo, những cột dọc cứ mờ nhòe đi. Bàn cờ lạnh ngắt, gỗ thấm sương đêm, các quân cờ nặng trĩu. Tôi biết mình nên tính toán, nhưng bộ não tôi giống như một cỗ máy hết xăng, nó chỉ kêu lọc cọc rồi dừng hẳn.

Tôi đi một nước chẳng vì mục đích gì. Anh ta bắt xe rồi nhìn tôi, đợi chờ một sự phản kháng. Thật kỳ lạ khi thấy ai đó vẫn còn đủ năng lượng để quan tâm đến việc một quân hậu sẽ đi đâu. Tôi nhìn xuống bàn tay mình trên mặt bàn, nó trắng bệch và run rẩy. Giữa chúng tôi không chỉ là bàn cờ, mà là một vực thẳm. Anh ta đang chơi một trò chơi trí tuệ, còn tôi đang cố gắng hít thở mà không thấy đau ngực.

Tôi ngồi đó, nhìn chằm chằm vào quân vua của mình đang trơ trọi giữa vòng vây. Người đàn ông không vội vàng kết thúc ván đấu. Anh ta đẩy nhẹ quân tượng, rồi phá vỡ sự im lặng bằng một giọng nói trầm đục:

– Cô đang cố gắng bảo vệ quân Vua, hay chỉ đang đợi nó bị bắt để cuộc chơi này kết thúc?

Câu hỏi ấy khiến tôi sững lại. Anh ta dường như đã thấy sự mệt mỏi đang gào thét bên trong rằng tôi không muốn gắng gượng thêm một giây nào nữa. Tôi cảm thấy mình như quân vua đó: đứng trên bàn cờ chỉ vì trách nhiệm phải đứng, chứ không phải vì muốn tồn tại.

Không thấy tôi trả lời, anh ta lại tiếp tục, lần này giọng thấp hơn, như một lời thì thầm chỉ đủ cho hai người:

– Nếu bây giờ chúng ta dọn hết những quân cờ này và coi như chưa có ván đấu nào xảy ra, cô có thấy nhẹ lòng hơn không?

Anh ta cho tôi một lối thoát. Một lối thoát mà không cần sự phán xét. Trong khoảnh khắc đó, lần đầu tiên tôi ngước mắt lên. Anh ta nhìn tôi như nhìn một người đang mang một tảng đá quá nặng trên vai và chỉ đơn giản là nhắc nhở rằng: Tôi có quyền đặt nó xuống.

Anh ta hỏi tôi có muốn tiếp tục không. Tôi nói có. Nhưng tôi biết mình đang nói dối.

Tôi chỉ muốn ván cờ kết thúc, để không phải ngồi đó thêm nữa, đối diện với chính mình trong sự im lặng đáng sợ ấy.

Tôi biết mình sẽ gục ngã nếu nó còn tiếp diễn…

Một cơn gió mạnh thốc đến làm căn nhà rung lên. Vy giật mình, khép cuốn sổ lại trong giây lát, áp vào ngực. Tim cô đập nhanh, không hẳn vì sợ, mà vì một cảm giác quen thuộc đang trỗi dậy, hệt như khi cô sắp bước vào rừng để đi theo cái đốm sáng lạ lùng kia. Cô dường như biết trước điều gì đang chờ đợi mình ở trang tiếp theo, nhưng lại không thể nào dừng đọc.

Sau nhà có một lối mòn… Tôi đã đi rất lâu, rất sâu vào khu rừng tưởng như vô tận ấy… Rồi tôi thấy nó. Một hồ nước lặng ngắt, im lìm không gợn sóng.

Tôi cúi xuống. Lần đầu tiên sau nhiều tháng, tôi nhìn thấy chính mình.

Tôi không nhận ra người đàn bà trong làn nước kia. Đó là một hình hài xám xịt, đôi mắt trống rỗng như hai hố đen và làn da nhợt nhạt như xác sống. Tôi nhận ra lối thoát mà tôi hằng tìm kiếm bấy lâu thực chất là một ngõ cụt. Trầm cảm không phải là một mê cung để ta tìm đường ra, nó là một đại dương, và tôi đã chìm quá sâu đến mức không còn biết phía nào là mặt nước.

Tôi chạm tay xuống nước. Nước lạnh đến mức làm tê liệt mọi cảm giác, như muốn nhắc nhở rằng có những thứ không thể cưỡng cầu, không thể giải quyết chỉ bằng ý chí.

Lần đầu tiên sau nhiều tháng, tôi cảm nhận rõ ràng sự trống rỗng, sự mệt mỏi đến tê liệt. Nhưng trong chính khoảng trống ấy, tôi cũng thấy được một điều: tôi vẫn còn đứng ở bờ. Tôi chưa chìm hẳn. Liệu chăng nếu tôi vẫn còn đứng được, vẫn còn thở được, vẫn còn nhìn thấy chính mình, thì có nghĩa là vẫn còn một lựa chọn. Rồi tôi lại hoảng sợ vì ý nghĩ đó.

Không, như thế là quá đủ rồi.

…

Thế giới trong Vy quay cuồng như cơn bão bên ngoài. Linh cũng đã trải qua những phút giây như thế, và cô thì không hề hay biết. Ôi, Linh đáng thương của cô. Nếu cô ở bên Linh, có thể tất cả đã khác đi. Giờ thì cô chẳng thể làm gì ngoài việc trừng phạt bản thân mình. Căn nhà tiếp tục chịu đựng, đứng vững giữa rừng đêm, còn Vy rơi xuống vực sâu hun hút.

***

Một ngày sau, cơn bão tuyết cuối cùng cũng dừng lại, đột ngột như khi nó đến, để lại phía sau một sự tĩnh lặng nặng nề gây nghẹt thở. Trời sáng hơn, nhưng ánh sáng nhợt nhạt, bị bẻ gãy bởi những tầng mây thấp còn sót lại. Không khí lạnh cắt da, khô và trong, mang theo mùi nhựa cây và băng tan rất nhẹ.

Vy không chịu nổi cảm giác bị giam cầm trong căn nhà thêm nữa. Sự im lặng sau bão khác với sự im lặng của những ngày bình thường, nó đặc quánh, đè nặng lên lồng ngực, như thể mọi thứ đều đang nín thở chờ một điều gì đó không gọi được thành tên. Cô mặc thêm hai lớp áo, quấn khăn, mở cửa bước ra ngoài trước khi kịp nghĩ lại.

Những trận gió đêm qua đã vun tuyết thành một bức tường rào ngăn cách sân sau với lối vào rừng. Mỗi bước chân đều lún sâu, phát ra tiếng răng rắc khô khốc, như thể cô đang giẫm lên xương của mùa đông. Những thân cây cao vút đứng bất động, cành gãy sau bão rũ xuống, phủ đầy băng trắng, trông như những cánh tay bị thương buông thõng bên cơ thể hao gày.

Rừng sau bão không hiền lành, nó sạch sẽ một cách lạnh lùng, mọi dấu vết quen thuộc đều bị xóa sạch. Những lối rẽ Vy từng nhớ mơ hồ giờ không còn phân biệt được đâu là đường, đâu là hố tuyết sâu. Gió thổi qua những tán thông, mang theo tiếng rì rầm kéo dài, giống lời đe dọa những kẻ đi hoang bước chân vào cấm địa.

Ở vài đoạn trũng, băng đã bắt đầu tan nhẹ, tạo thành những vệt nước sẫm màu loang lổ trên nền trắng. Chúng phản chiếu bầu trời xám xịt méo mó, rồi vỡ ra ngay khi Vy bước tới. Mùi đất ẩm và lá mục trồi lên từ dưới lớp tuyết, gợi một cảm giác mong manh về sự sống đã nát rữa cùng với thời gian.

Vy không vội vàng, nhưng cũng không dừng lại. Hơi thở cô phả thành từng làn khói mỏng, tim đập đều và nặng. Cô không chắc mình đang đi đúng hướng, chỉ biết rằng có một lực kéo vô hình buộc cô phải tiếp tục tiến sâu hơn vào rừng.

Và rồi, một khoảng trống mở ra trước mắt. Nó cũng trắng xóa như bất kỳ khoảng trống nào khác trong rừng lúc này, nhưng Vy biết đó chính là hồ nước mà người phụ nữ kia ghi trong cuốn sổ. Lớp tuyết dày phủ bên trên mặt nước đã đóng băng, khiến cô không thể nào tìm thấy “tấm gương”. Không có gì cả. Chỉ là một khoảng trắng lạnh lẽo và câm lặng.

Hồ nước từ chối trao cho cô một câu trả lời mà cô đang tìm kiếm.

Vy bước thêm một bước. Rồi một bước nữa. Ở giữa lòng hồ, lớp băng mỏng hơn, cô cảm nhận được điều đó qua tiếng kẽo kẹt rất khẽ dưới chân. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu: nếu băng vỡ, mình sẽ nhìn thấy gì đó. Có thể là mặt nước đen sâu, có thể là chính mình bị bẻ gãy, hoặc có thể là một lời giải thích muộn màng cho tất cả những tháng ngày tự giày vò hành hạ bản thân.

Vy nhắm mắt lại và bước tiếp.

Một tiếng nứt vang lên, nhỏ nhưng đanh. Ngay khoảnh khắc ấy, một bàn tay nắm lấy tay cô và kéo giật mạnh về phía sau. Vy mất thăng bằng, ngã xuống, trượt dài trên mặt băng lạnh buốt. Thế giới xoay nghiêng. Cô trượt tới bờ hồ, đầu đập vào một rễ cây lớn trồi lên khỏi mặt nước. Một cơn đau nhói lên rồi tan nhanh, nhường chỗ cho cảm giác mơ hồ, bồng bềnh, như thể mọi thứ đang tan ra trong tuyết.

Hình ảnh xung quanh cô nhòa đi.

Rồi Hà Nội hiện ra, rõ ràng đến lạ. Quán cà phê nhỏ trên phố Khúc Hạo, buổi chiều xuân ẩm ướt. Vy và Linh ngồi đối diện nhau, trước mặt là hai cốc sữa chua đánh đá cà phê. Hai đứa mới nhận được thư báo trúng tuyển của cùng một trường ở Phần Lan và được kết nối thông qua trung tâm tư vấn du học. Chẳng biết dây dưa gì trong kiếp trước mà mới gặp nhau lần đầu đã quấn quít được ngay. Linh cười dè dặt, kiểu cười của những người luôn phải giữ cảm xúc cho riêng mình, nhưng đôi mắt to tròn sáng lên khi nói về tuyết, về mùa thu vàng, về cực quang, toàn những thứ đẹp đẽ như ở chốn thần tiên. Vy cũng hào hứng nói cười, dù trong lòng xen lẫn háo hức và lo sợ.

Rồi Hà Nội vụt tan đi, nhường chỗ cho Rauma nhỏ bé, yên bình, những con đường lát đá, những ngôi nhà hàng trăm năm tuổi nằm trầm lặng trong những khu phố vắng bóng người. Vy và Linh gắn bó với nhau như hình với bóng. Họ thuê chung căn hộ sinh viên, cùng nấu những bữa cơm quen thuộc vị nhà, đi học cũng ngồi chung bàn, chia sẻ từng điều nhỏ nhặt. Linh dịu dàng, mơ mộng, thường dừng lại rất lâu trước những khóm hoa dại ven đường. Vy thì luôn kéo cô đi tiếp, nói về tương lai, về những dự định lớn hơn.

Nhưng mấy tháng “trăng mật” qua nhanh, mùa đông đầu tiên ở Phần Lan khiến cả hai đứa cùng sốc nặng. Suốt mấy tuần liền không thấy ánh sáng mặt trời, ra phố cũng chẳng mấy khi thấy mặt người, đến Vy vốn là đứa hoạt bát vui tươi cũng trở nên lặng lẽ. Căn phòng ký túc xá nhỏ ở Rauma lúc nào cũng bật đèn vàng, như thể nếu tắt đi thì bóng tối ngoài kia sẽ tràn vào và nuốt chửng tất cả. Tuyết rơi không tiếng động. Những ngày đầu, cả hai còn háo hức chạy ra ngoài để vẫy vùng trong đống tuyết lạnh băng. Nhưng đến tuần thứ ba, tuần thứ tư, mọi thứ bắt đầu lặp lại một cách mệt mỏi.

Một buổi tối tuyết rơi dày, gió thổi mạnh đến mức cửa kính rung lên bần bật. Linh đi bộ từ chỗ quán ăn mà cô làm phục vụ về, chỉ bỏ bộ quần áo chống tuyết mặc ngoài rồi chui thẳng vào giường. Vy ở phòng tắm ra, thấy Linh nằm quay mặt vào tường thì nghĩ bạn đã ngủ nên khẽ khàng ra bàn ngồi học. Căn phòng im ắng đến khó chịu. Đến khi Vy chuẩn bị tắt đèn, chợt nghe tiếng Linh nói, rất nhỏ:

– Cậu có bao giờ cảm thấy… mình không thuộc về đâu cả không?

Vy sững người. Linh vẫn nằm im, chỉ có bàn tay siết chặt mép chăn.

– Ý cậu là sao? Có chuyện gì à?

Một lúc lâu không có câu trả lời. Rồi Linh bật cười khẽ, kiểu cười để xua đi điều gì đó vừa lỡ miệng.

– Không, không có gì đâu. Chắc tại trời tối quá nên tớ cứ nghĩ linh tinh thôi.

Có hôm hai đứa đi siêu thị, Linh đứng giữa lối đi, nhìn những kệ hàng dài vô tận rồi thì thầm:

– Tớ thấy mình như đang ở dưới đáy một cái giếng. Mọi thứ diễn ra bình thường phía trên, nhưng âm thanh đến chỗ tớ thì méo mó hết.

Thoạt tiên, Vy nghĩ chỉ là nỗi nhớ nhà kèm theo cú sốc văn hóa mà sinh viên quốc tế nào cũng trải qua. Cô không biết rằng những lời nói ấy không chỉ thuộc về mùa đông Phần Lan. Chúng đã có từ rất lâu trước đó, chỉ chờ một khoảng tối đủ sâu để lộ diện.

Một lần bão tuyết ập đến gây mất điện, hai đứa ngồi co ro trong ánh nến lập lòe, Linh kể cho Vy nghe về tuổi thơ cô độc của mình ở vùng ven đô. Bố mẹ bận làm ăn, thường xuyên đi sớm về muộn, Linh tự ăn cơm một mình, tự học, tự ngủ. Không ai hỏi cô ở trường thế nào. Không ai để ý cô im lặng bao lâu. Đến một ngày, sự cô đơn nhưng yên bình đó thậm chí cũng trở nên xa xỉ. Kinh doanh thua lỗ, bố mẹ cô ở nhà nhiều hơn nhưng những trận cãi cọ xảy ra liên miên, thậm chí còn động chân tay, bát đũa đồ đạc hiếm có thứ gì còn lành lặn. Linh thu mình vào trong góc tối trên gác xép, hoảng sợ với mọi thứ xung quanh. Sau khi bố cô bị bắt vì lừa đảo huy động vốn, mẹ bán nhà, chuyển tới sống với một người đàn ông khác, cô gần như bị vứt ra đường. Lên trung học, cô nộp đơn vào trường Kim Liên dù hàng ngày phải đạp xe tới gần 10 km, chỉ để không có bạn bè nào sống gần nhà và biết chuyện bố mẹ mình. Cô dành hết thời gian để kiếm học bổng với mục tiêu chính là thoát khỏi nơi đã không còn chỗ cho mình ấy.

Vy cơ bản không thể hiểu hết được cảm giác của Linh khi cô lớn lên trong một gia đình lành mạnh bình thường. Hơn nữa, chính bản thân cô cũng lúng túng không biết làm gì để qua được cái mùa đông khắc nghiệt này. Cô chỉ có thể ra sức gần gũi, hiện diện với Linh, hy vọng sẽ giúp Linh chữa lành vết thương ngày nhỏ.

Linh gắn bó với Vy gần như tuyệt đối từ dạo ấy. Không phải vì chiếm hữu, mà vì Vy là người duy nhất cô có thể bám víu vào. Và Vy, trong sự vô tư của tuổi hai mươi, đã không nhận ra rằng mình đang trở thành chiếc phao duy nhất của một người vốn đã quen chìm xuống từ thuở nhỏ.

Tốt nghiệp nhận bằng xong, cả hai cùng vào làm cho chi nhánh một công ty quốc tế. Linh trở thành kế toán, một công việc nhạt nhẽo, khô khan. Cô không thích nó, nhưng không biết phải làm gì khác. Sau vài năm, Linh bất chợt xin nghỉ việc, mở một tiệm hoa nho nhỏ. Cô ngày càng giống người Phần đến kỳ lạ – trầm lặng, khép kín, chỉ chơi với mình Vy và đặt cả thế giới của mình vào mối quan hệ ấy.

Vy thì khác. Cô yêu Linh, nhưng vẫn là người sôi nổi, thích gặp gỡ, thích dịch chuyển. Khi gặp Elias ở Helsinki và hẹn hò với anh, Vy quyết định chuyển lên thành phố sống. Sau một năm, những xung đột bắt đầu — về khoảng cách, về khác biệt, về những điều không ai gọi tên được. Mối quan hệ đổ vỡ. Vy đang chìm trong khủng hoảng của riêng mình thì nhận được tin Linh tự sát vì trầm cảm.

Linh không chết. Nhưng cũng không còn sống như trước nữa. Cô rơi vào trạng thái sống thực vật và được gia đình đưa về Việt Nam khi các bác sỹ tuyên bố không thể làm gì hơn. Mọi thứ sau đó trở nên rời rạc, đứt đoạn – những chuyến bay, những bệnh viện, những lời xin lỗi không còn người nhận…

…

Vy tỉnh lại trong mùi khói gỗ thông và hơi ấm dịu dàng lan trên mặt. Trần lều thấp, được ghép từ những tấm gỗ thô ráp, ánh lửa hắt lên những vệt cam bập bùng. Đó có vẻ như một căn lều nghỉ chân dành cho người đi bộ trong rừng. Cô đang nằm trên băng ghế dài phủ chăn dày, đầu vẫn còn nặng và đau âm ỉ.

Rowan ngồi gần cửa lều, quay lưng lại phía cô. Anh đang cúi xuống, chậm rãi cho thêm vài thanh củi vào đống lửa nhỏ. Ngọn lửa bùng lên, kêu lách tách, vài đốm sáng bắn tóe lên không.

Vy chống tay ngồi dậy. Ngay khoảnh khắc nhận ra mình vẫn còn sống, một điều gì đó trong cô sụp xuống hoàn toàn.

Cô bật khóc.

Không phải những tiếng nấc nghẹn gấp gáp, mà là một dòng nước mắt tràn ra không thể kiểm soát. Nước mắt chảy ướt hai bên má, thấm cả xuống chiếc khăn quàng. Vai cô run lên, rồi toàn thân co rút lại như một đứa trẻ cuối cùng đã mệt mỏi đến mức không thể gồng mình thêm nữa. Tất cả những gì Vy đã giữ lại suốt nhiều tháng qua – tội lỗi, sợ hãi, giận dữ, nhớ thương – vỡ tung, như con đê đã chịu quá nhiều áp lực và cuối cùng cũng chịu thua dòng nước lũ.

Rowan không vội quay lại. Anh để cô khóc.

Chỉ khi tiếng khóc dịu xuống thành những nhịp thở đứt quãng, anh mới đứng dậy, đưa cho cô một cốc nước ấm.

– Uống đi.

Vy cầm lấy, hai tay vẫn run. Cô uống một ngụm nhỏ, rồi buông cốc xuống. Nước mắt vẫn rơi, nhưng chậm hơn.

– Tôi đáng lẽ không nên ở đây. Cô nói, giọng khàn đặc. – Tôi đã bỏ Linh lại. Tôi đã phản bội cô ấy khi chọn cuộc sống của mình…

Vy không nói tiếp được.

Rowan ngồi xuống băng ghế, khoảng cách vừa đủ để Vy thấy an toàn.

– Cô tự trừng phạt mình bao lâu rồi?

Câu hỏi ấy khiến Vy sững lại.

– Tôi không biết. Cô lắc đầu. – Từ khi biết tin… Hoặc từ lúc biết là Linh không còn hy vọng phục hồi. Tôi nghĩ nếu tôi sống khốn khổ trong cô độc, không niềm vui, hạnh phúc… thì có lẽ sẽ công bằng hơn.

– Công bằng với ai?

Vy mở miệng, nhưng không trả lời được. Môi cô run run.

Rowan nhìn thẳng vào cô, giọng anh không gay gắt, cũng không tỏ ra an ủi.

– Cô nghĩ Linh cần cô sống như một hình phạt sao?

Vy cúi đầu. Một giọt nước mắt rơi xuống mu bàn tay.

– Tôi nghĩ… tôi phải mang tiếp nỗi đau mà cô ấy đã trải qua.

Rowan im lặng một lúc, rồi nói chậm rãi:

– Trầm cảm không phải là một món nợ có thể chuyển giao. Và cái chết cũng không phải là một bản án để người ở lại thi hành thay.

Vy ngẩng lên. Ánh lửa phản chiếu trong mắt cô, chập chờn.

– Nhưng nếu tôi ở lại… nếu tôi không rời đi…

– Cô vẫn nghĩ cô có quyền quyết định số phận của Linh à? Rowan ngắt lời, nhẹ nhưng dứt khoát. – Hay cô đang giữ lấy ảo tưởng đó để tiếp tục trừng phạt mình?

Câu nói rơi xuống, nặng nề.

Vy nhắm mắt lại. Hình ảnh Linh hiện lên: nụ cười dè dặt trong ngày đầu hai đứa gặp nhau, tiệm hoa nhỏ, những buổi chiều im lặng. Và rồi là bệnh viện, những ống dẫn, dây nhợ chằng chịt, thân thể bất động.

– Linh đã mệt, Rowan nói tiếp. – Không phải mệt vì cô rời đi, mà mệt vì phải sống trong chính mình mỗi ngày. Việc cô tự hành hạ bản thân chẳng có ý nghĩa gì.

Vy thở hắt ra, như vừa buông một vật nặng đã đeo quá lâu.

– Vậy tôi phải làm gì? Cô thì thầm. – Nếu tôi không trừng phạt mình, tôi biết làm gì?

Rowan nhìn vào đống lửa.

– Hãy sống cuộc đời mà Linh mơ ước. Không phải vì cô xứng đáng hơn cô ấy, mà vì cô vẫn còn ở đây.

Ngoài lều, gió rít lên, tuyết tiếp tục rơi. Nhưng bên trong, ngọn lửa cháy đều, không bùng lên dữ dội, cũng không tàn lụi. Vy ngồi đó, nước mắt đã cạn, chỉ còn lại một khoảng trống đau đớn, nhưng lần đầu tiên, nó không còn mang hình dạng của sự trừng phạt nữa.

***

Sáng Chủ nhật Phục sinh đến nhẹ như một bông tuyết đậu vào vai.

Bầu trời hôm ấy cao và nhạt màu, một thứ xanh còn khấp khởi nhưng đã khác hẳn sắc chì nặng nề của mùa đông. Tuyết trong vườn không còn trắng tinh nữa, nó ngả sang màu ngà, lốm đốm những khoảng đất nâu bắt đầu lộ ra, như thể mặt đất đang thử mở mắt sau một giấc ngủ dài.

Không khí có mùi ẩm của băng tan và mùi gỗ ấm còn sót lại từ lò sưởi đêm qua. Xa xa, có tiếng ngỗng khàn khàn, bọn chim di trú đã trở về. Vy tỉnh giấc nhưng không dậy ngay, cô nằm đó nhìn ra ngoài cửa sổ. Cô muốn trì hoãn thêm một chút, dù vẫn biết có một việc mà hôm nay mình nhất định phải làm.

Nước nhỏ giọt đều đặn từ mái hiên, từng giọt rơi xuống như đếm nhịp cho mùa mới.

Một năm nào đó, hai đứa đã bày trò chơi giấu trứng. Quả trứng Vy giấu trong hốc cây không bao giờ được tìm thấy, đến giờ cô cũng không biết nó đã biến đi đâu.

Một năm khác nữa, cô đã gặp Elias rồi lập tức bị đôi mắt xanh như nước Địa Trung Hải của anh hút hồn. Nếu không kể những rung động trẻ con hồi trung học, thì anh là mối tình đầu của Vy.

Mọi ý nghĩ đánh lạc hướng đều không thành công. Cuốn sổ nằm yên ở cuối giường, chờ đợi.

Phải kết thúc thôi, cô khẽ thở dài, giở đến trang cuối cùng có chữ.

Lại những cơn ác mộng. Lại một đêm không sao ngủ được.

Ánh sáng ấy lại đến. Nó dẫn tôi tới nhà thờ thánh Michael. Nghĩa địa trông rất khác, trống vắng hơn, hoặc là tôi tưởng vậy. Người ta nhường chỗ cho tôi. Tôi đi loanh quanh, nghĩ đến một bia mộ khắc tên mình. Mà không, tôi chẳng muốn để lại thứ gì.  

“Cô đến tìm tôi ư?”. Giọng nói trầm đục vang lên phía sau lưng. Người đàn ông ấy đang ngồi trên một phiến đá dưới gốc sồi già. Anh ta không ngạc nhiên khi thấy tôi ở đây, giữa chặng cuối của sự tuyệt vọng này.

Tôi gật đầu.

Anh ta đứng xuống, tiến về phía tôi và đặt vào lòng bàn tay lạnh ngắt của tôi một vật. Một quân Vua bằng gỗ.

“Ván cờ lần đó chưa thực sự kết thúc,” anh ta nói khẽ. “Nhưng đôi khi, thắng hay bại không quan trọng bằng việc biết khi nào nên dừng lại.”

Tôi siết chặt quân cờ trong tay. Anh ta không khuyên tôi hãy cố gắng lên, không bảo tôi hãy nhìn vào vẻ đẹp của cuộc sống xung quanh. Anh ta trao cho tôi quyền được thất bại.

Quân Vua nằm giống như một sắc lệnh cho phép tôi thôi không cần phải chiến đấu với chính mình nữa. Đầu hàng chỉ là sự thừa nhận rằng tôi đã thua trong cuộc chiến đóng vai một người bình thường.

Vy gấp cuốn sổ lại, đi ra chiếc tủ đồng hồ. Cô run run mở cánh cửa, lấy chiếc hộp gỗ ra. Một quân Vua bằng gỗ nằm trên lớp nhung đỏ thẫm.

Vì sao có những việc dù đã biết trước, lại vẫn khiến người ta bàng hoàng đến vậy.

Cô cứ quỳ ở đó hồi lâu, nhìn chằm chằm chiếc hộp cho tới khi tiếng gõ cửa vang lên làm cô giật bắn người.

Ba đứa trẻ đứng trước hiên nhà, má ửng hồng vì lạnh, mắt sáng long lanh. Hai bé gái đội những chiếc khăn sặc sỡ, khoác áo choàng cũ kỹ quá khổ, trên tay cầm những cành lộc mảnh được trang trí bằng lông vũ đủ màu và giấy bạc lấp lánh. Tuyết cuối mùa vẫn còn vương trên bậc thềm, tan dở dưới ánh nắng nhạt.

– Hyvää pääsiäistä! Một đứa bé cất tiếng chúc mừng lễ Phục sinh, giọng lanh lảnh.

Rồi cả ba bắt đầu hát bài đồng dao quen thuộc, nhịp điệu vui tươi, hơi ngượng nghịu nhưng đầy hào hứng:

“Virvon, varvon, tuoreeks terveeks,

tulevaks vuodeks;

vitsa sulle, palkka mulle!”

Vy đứng lặng vài giây. Cô đã đọc về phong tục này trước đây, đã từng nhìn thấy lũ trẻ hóa trang thành “những phù thủy nhỏ” đi khắp khu phố vào dịp Phục sinh. Nhưng năm nay, khi ba đứa trẻ đứng ngay trước cửa nhà mình, cành lộc đưa về phía cô cùng lời chúc, cô chợt thấy xúc động vô cùng.

– Kiitos, cô nói khẽ rồi nhận cành lộc, lúng túng mất một lúc về việc mình không có kẹo, rồi nhớ ra rằng có thể cho chúng mấy đồng xu.

Ba đứa trẻ nhận tiền rồi hớn hở quay đi, tiếng cười của chúng vang xa dần trên con đường ướt nhẹp.

Vy khép cửa lại, cắm cành lộc vào chiếc bình gốm trên bậu cửa sổ. Những nhánh cây mảnh mai đã vượt qua mùa đông dài tăm tối để đâm chồi đúng tiết Phục sinh. Sự sống không trở lại bằng một phép màu chói lòa. Nó đến trong những điều nhỏ bé: một bài đồng dao trẻ con, một cành lộc run rẩy trong tay, một buổi sáng không còn bão.

Vy đứng bên cửa sổ, nhìn ánh sáng trải xuống khu vườn còn phủ một lớp băng mỏng.

Cô không còn tìm kiếm dấu hiệu định mệnh nữa.

Nếu Linh đã tìm đến cái chết để chấm dứt nỗi đau, thì việc cô sống như một hình phạt chỉ là kéo dài nó theo một hình thức khác.

***

Suốt mùa xuân ấy, Vy thường xuyên ghé lại chỗ Sue, giúp bà mọi việc. Đúng như Rowan dự đoán, đến giữa tháng tư băng trên hồ đã bắt đầu tan. Trong vòng hai tuần, khoảnh sân trước căn nhà cô ở đã lún phún xanh. Một sáng mở cửa bước ra ngoài, cô khẽ thốt lên khi thấy mấy khóm thủy tiên bên dưới bậu cửa sổ đã nở những bông hoa tím tím trắng trắng xinh xinh. Cô thầm mong tuyết không rơi lại nữa để những khóm hoa ấy không lụi sớm.

– Sue, cuối cùng cô ấy… thế nào?

Vy bất ngờ hỏi khi hai người đang dọn những bụi cây khô năm ngoái trong vườn nhà Sue. Bị tuyết phủ kín suốt 4 tháng, chúng đóng băng và giờ thì oải mục hết ra dưới ánh mặt trời.

– Cô gái từng sống trong căn nhà cháu đang ở ấy hả?

Sue không ngẩng đầu lên, dường như bà đã biết sớm muộn gì Vy cũng sẽ hỏi đến chuyện này. Bà cũng không ngạc nhiên khi cô dùng thì quá khứ.

– Vâng. Cháu đoán là cô ấy không còn nữa.

– Cô ấy cố gắng tự sát hai lần, cùng ở bãi đá ngoài bờ biển phía đông nam đảo ấy. Chỗ đó chẳng mấy khi có người lai vãng. Lần đầu có một người đàn ông trông thấy nên cứu được. Nhưng chỉ mấy tháng sau, cô ấy nhảy xuống từ một bờ đá cao hơn vào một đêm đông…

Cổ Vy nghẹn lại, dù đó là kết cục mà cô đã biết trước. Cuối cùng thì người ấy đã được giải thoát. Quân Vua đã nằm lặng ngắt trên bàn cờ số phận. Không còn phải đấu tranh giành giật nữa rồi.

– Sắp tối rồi đấy, nghỉ tay thôi. Cuối tuần này con trai ta về, nó sẽ giúp làm nốt phần còn lại.

Sue thu mấy dụng cụ làm vườn rồi mang tới nhà kho. Ở tuổi 75 mà trông bà vẫn nhanh nhẹn vô cùng.

– Giờ vẫn sớm, bà dạy cháu làm pulla nhé? Vy chợt nhớ ra khi cởi chiếc găng tay làm vườn đưa cho Sue.

Chẳng mấy chốc mà mùi quế thơm dịu đã tràn ngập gian bếp nhỏ. Khi mẻ bánh cuối cùng được lấy ra, Vy thấy một sự an nhiên chầm chậm len vào từng ngách nhỏ trong lòng.

– Bà, bà đã bao giờ hối hận vì đã đến Phần Lan chưa?

Sue xếp bánh vào chiếc giỏ mây có phủ tấm khăn kẻ caro màu tro xinh xắn, mỉm cười.

– Cũng đã từng, trong mấy năm đầu ta theo Petri về đây. Xung quanh chẳng có một ai, hàng xóm gần nhất cũng ở xa cả dặm. Gia đình ông ấy không nói tiếng Anh, ta phải bắt đầu học tiếng Phần. Mùa đông thứ hai là tệ nhất. Bão tuyết kéo dài suốt nhiều ngày. Ta gần như mất hẳn kết nối với thế giới bên ngoài. Mà ngay cả khi đã đi làm, ta vẫn thấy mình lạc lõng vì không hiểu được người bản xứ. Họ rất khác, khác biệt vô cùng so với tất cả những người ta từng gặp ở châu Âu. Có một thời gian ta chỉ muốn quay về Úc.

– Rồi thứ gì đã giữ bà ở đây thế?

– Tất nhiên là Petri. Ông ấy kiên nhẫn vô cùng, không gò ép, không thúc giục; ông ấy chỉ ở bên cạnh và là chỗ dựa vững chắc khi ta cần. Ông ấy ít nói, nhưng ta luôn cảm nhận được sự yêu thương qua những việc ông ấy làm. Đôi khi ta cũng ngạc nhiên vì sau này chính ta lại là người muốn được ở lại đây hơn ai hết.

Vy nghĩ đến Elias. Dường như cô vẫn luôn cố tìm kiếm thứ gì đó hoàn hảo, nên chỉ nhìn thấy những nhược điểm của anh. Là cô không thể hiểu được cốt lõi của người Phần, hay chỉ là cô chưa bao giờ thực sự cố để hiểu, để chấp nhận, để bao dung?

– Bà có biết Rowan sống ở đâu không? Vy chợt nhớ ra một điều mình muốn hỏi từ lâu.

– Rowan?

– Vâng, người có lần ngồi uống cafe với cháu ở đây ấy.

– Ồ, ta không biết. Ta chưa từng thấy cháu ngồi cùng ai bao giờ.

***

Ánh sáng ấy lại đến tìm Vy một buổi chiều cuối xuân không có nắng. Lúc ấy khoảng rừng sau nhà đã xanh um. Nó không còn là đốm sáng le lói trong đêm, mà đã trở thành một vệt sáng mỏng, dịu dàng trượt qua những thân cây, len giữa những cành thông còn ướt. Nó yên lặng đứng chờ cho đến lúc Vy nhận ra.

Vy khoác chiếc áo len mỏng, mở cửa bước ra ngoài như thể cô đã từng làm như thế ngàn lần.

Con đường dẫn về phía nhà thờ St. Michael hiện ra dần dần qua màn sương chiều bảng lảng. Tháp chuông tối màu nổi bật giữa nền trời xám nhạt. Hai hàng sồi phủ kín lá non, trong nghĩa trang cỏ cũng đã vươn lên mướt mát. Lạ lùng thay, mùi hương của sự sống cứ lan tỏa ở cái nơi kết thúc này mà không hề gây nên cảm giác đả kích lẫn nhau.

Cái chết cơ bản vẫn luôn là một phần của cuộc sống, phải vậy không?

Khi cô đến gần, một âm thanh dìu dặt vang ra từ bên trong thánh đường. “Gymnopédie No.1” của Erik Satie. Cô bước lên những thềm đá, khẽ kéo cánh cửa gỗ nặng chịch có vẻ như đã ở đó mấy trăm năm. Bên trong nhà thờ không có ai ngoài Rowan. Anh ngồi trước cây đại dương cầm cũ đặt gần gian giữa, lưng thẳng, vai hơi cúi. Ánh sáng cuối ngày từ những ô cửa kính cao hắt xuống sàn đá, tạo thành những vệt dài nhàn nhạt. Những ngọn nến nhỏ cháy lặng lẽ ở hai bên bàn thờ Chúa.

Vy ngồi xuống hàng ghế phía sau, lưng tựa vào gỗ lạnh. Tay cô đặt trên đầu gối, mắt hơi khép lại. Âm thanh trôi qua người cô như dòng nước ấm chảy dưới lớp băng. Không đòi hỏi. Không phán xét. Chỉ là tồn tại.

Giai điệu chậm rãi, giản đơn, mỗi hợp âm ngân lên như một bước chân nhẹ trên nền tuyết. Không bi thương, không kịch tính. Chỉ là một sự buông xuống êm ái, như thể bản nhạc không cố giữ lại điều gì.

Nó nghe như một lời tiễn biệt, nhưng là một lời tiễn biệt dịu dàng.

Trong từng nhịp âm chậm rãi ấy, Vy cảm thấy có điều gì đó đang được đặt xuống. Không phải ký ức, không phải tình yêu, không phải cả nỗi đau, mà là sự kháng cự. Sự cố chấp muốn hiểu cho bằng được, muốn tìm một câu trả lời tuyệt đối cho những điều vốn không có câu trả lời.

Bản nhạc tiếp tục, những hợp âm cuối cùng ngân dài rồi tan ra trong mái vòm cao của nhà thờ.

Vy mở mắt. Rowan đã đứng trước mặt cô tự bao giờ.

– Giờ thì tôi phải đi rồi, Vy ạ.

Mặt Rowan lộ vẻ quyến luyến, nhưng giọng nói của anh hàm chứa niềm vui. – Thỉnh thoảng hãy nhớ đến tôi nhé.

– Có khi nào tôi gặp lại anh không?

– Không thì tốt hơn. Anh bật cười. – Tôi còn nhiều việc khác phải làm.

Anh cầm tay phải của cô lên, đặt vào đó một quân tốt và khép những ngón tay đang run run của cô lại.

– Đừng bao giờ trốn chạy nữa. Cuộc đời vốn bất công, nhưng nó sẽ trả công xứng đáng cho những ai cố gắng đi đến tận cùng.

Nói dứt lời, anh quay lưng bước về phía cửa.

– Rowan, anh có thật không?

Rowan dừng chân, hơi nghiêng đầu lại.

– Có nhiều thứ không cần phải tìm ra câu trả lời chính xác. Chẳng phải cô mới vừa nhận ra điều đó hay sao?

Vy nhìn xuống bàn tay. Giống như quân tốt chỉ đi một chiều, giờ cô chỉ có một lối là tiếp tục bước về phía trước.

Cô để Rowan đi mà không thắc mắc gì thêm nữa.

Khi cô bước ra khỏi nhà thờ, bầu trời phía trên đã nhạt đi một tông xám. Ánh sáng kia vẫn còn ở đó. Chỉ là một khoảng sáng đủ để phân biệt đường chân trời.

Lần này, Vy không bước theo ánh sáng ấy.

Cô bước song song với nó.

  • Facebook
  • Twitter
  • Pinterest
  • LinkedIn
Written by admin - 4 Tháng 3, 2026 - 494 Views

No Comment

Please Post Your Comments & Reviews
Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Next Post
Previous Post

Bài viết liên quan

  • Tháng 4 2026
  • Tháng 3 2026
  • Tháng 12 2025
  • Tháng 10 2025
  • Tháng 8 2025
  • Tháng 7 2025
  • Tháng 6 2025
  • Tháng 5 2025
  • Tháng 3 2025
  • Tháng 10 2024
  • Tháng 9 2024
  • Tháng 3 2024
  • Tháng 12 2023
  • Tháng mười một 2023
  • Tháng 9 2023
  • Tháng 8 2023
  • Tháng 7 2023
  • Tháng 6 2023
  • Tháng 5 2023
  • Tháng 4 2023
  • Tháng 3 2023

Chuyên mục

  • Cà phê sáng
  • Cuộc sống muôn màu
  • Đi và đến
  • Góc nhìn nghiêng
  • Hoang dã
  • Music
  • Thế giới của T
  • Trải nghiệm
  • Videos

Danh mục

  • Cà phê sáng
  • Cuộc sống muôn màu
  • Đi và đến
  • Góc nhìn nghiêng
  • Hoang dã
  • Music
  • Thế giới của T
  • Trải nghiệm
  • Videos

Bài viết mới

  • Hãy theo đuổi giấc mơ, nhưng đừng liều đánh bạc
  • Những giấc mơ cũ và nơi không có thời gian
  • Cho những ai đi lạc quá lâu trong mùa tuyết
  • Một lời tự thú chẳng ăn nhập vào đâu ngày cuối năm
  • Ai đang đốt tiền, đổ thức ăn và khóa lối vào thùng rác?

Tags

Chính phủ Miễn phí Rệp giường Thành phố
Hanh trinh trai nghiem

https://traveltales.vn Copyright - 2023