Hồi tôi 8 tuổi, vì thấy tôi quá gày gò ốm yếu nên bố mẹ đưa tôi đi khám. Kết quả chẩn đoán: Basedow. Một ca hiếm gặp vào thời đó, vì nếu tôi nhớ không nhầm thì chưa từng có ai ở Việt Nam mắc bệnh đó ở tuổi này. Bà ngoại theo tôi vào ở nội trú trong Bệnh viện Nội tiết, nơi nhà vệ sinh lúc nào cũng kín đặc ruồi vì nước tiểu của bệnh nhân đái tháo đường. Nhiều năm sau khi bệnh của tôi đã ổn định và không còn cần uống thuốc hàng ngày, mẹ vẫn tự trách bản thân vì đã gửi tôi về sống cùng ông bà ngoại hồi còn nhỏ. Nhà ông bà ở gần một bãi tha ma, và mẹ nghĩ đó là nguyên nhân khiến tôi bị bệnh.
Đến năm tôi 14 tuổi, một lần nữa bệnh tái phát, tôi vào nằm viện dài ngày. Sau thời gian điều trị tích cực, tôi ra viện nhưng vẫn phải đi khám hàng tháng để nhận thuốc về uống tiếp. Lần nào vào khám, bác sỹ cũng hỏi tôi học hành ra sao, điểm GPA thế nào. Dường như bác sỹ thời đó đã nhầm lẫn Basedow với bướu cổ do thiếu iod, nên cố tìm những biểu hiển bệnh lý ở tôi như suy giảm trí nhớ, thậm chí là ngu độn. Tôi bực lắm, nên ra sức học thật nhiều, giành điểm thật cao để mỗi lần trả lời, tôi có thể quan sát biểu hiện cực thộn trên mặt họ, kiểu “sao lại có thể như vậy nhỉ, đáng lẽ nó phải học dốt chứ”.
Dường như tôi đã dành cả thời thanh xuân của mình để cố đập tan cái nhận định sai lầm đó của mấy ông bà bác sỹ. Tôi luôn đứng trong nhóm học sinh có thành tích cao nhất lớp, thi đỗ trường điểm, đoạt giải học sinh Giỏi quốc gia, đến khi thi đại học cũng phải giành ngôi vị Á khoa. Ở trường đại học, tôi vẫn tiếp tục là “ngôi sao”, học hai trường cùng lúc, nổi trội với những hoạt động ngoại khóa Hội Đoàn. Tôi tốt nghiệp, đi làm, rồi chuyển về cơ quan báo chí, nhanh chóng có được vị trí mà nhiều người mơ ước. Chưa dừng lại, tôi lấy bằng đại học thứ ba, hoàn thành chương trình thạc sỹ của Mỹ.
Tôi tự hào về bản thân mình lắm. Khi rời bỏ cơ quan nhà nước để đi du học, tôi cũng sợ, nhưng cũng muốn biết khả năng của mình có thể kéo giãn đến đâu. Và tôi vẫn làm được.
Khi mọi người nói tôi thông minh, tôi sung sướng lắm.
Nhưng giờ ngồi nghĩ lại, tôi nhận ra mình không hề tài giỏi hay thông minh xuất chúng. Những gì tôi làm được đều là nhờ chăm chỉ và cố gắng không ngừng, với một động cơ không hề trong sáng: chứng minh tôi không ngu độn như mấy ông bà bác sỹ kia kỳ vọng.
Và vì thế, đáng lẽ tôi nên sống một cuộc đời phẳng lặng: tốt nghiệp một trường đại học trung bình, trở thành một công chức nhà nước làng nhàng, lấy chồng sinh con, ngày ngày đi làm tám tiếng, tối về thực hiện tốt nghĩa vụ của một người vợ dễ bảo và người mẹ dịu hiền. Hè đến, cả nhà có thể đi loanh quanh đâu đó mấy bãi biển gần xa bằng suất ưu đãi của cơ quan. Cứ vậy sống an yên cho đến cuối đời mà không cần nhìn sang nhà hàng xóm xem cỏ trong sân nhà họ có xanh hơn.
Tại sao tôi lại chọn con đường bão giông kia chứ?
Tôi cố gắng nhiều đến vậy, rốt cuộc là để làm gì?
Có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ nhận ra sự vô nghĩa cùng cực của những gì mình đã làm, nếu không có “năm đen tối” ở Phần Lan – năm tôi thất nghiệp và phải sống nhờ trợ cấp. Năm tôi bị hiện thực vả cho sấp mặt, rằng cơ bản tôi cũng chả là cái thá gì. Cái ngày tôi nhận ra điều đó là ngày tôi đến trường nghề để người ta phỏng vấn đầu vào cho một chương trình học ngắn hạn mà cơ quan xúc tiến việc làm tổ chức cho người thất nghiệp. Trên đường về, tôi bắt tàu vào Helsinki đến một cuộc hẹn tự vấn tâm lý, và tôi đã khóc suốt dọc đường với câu hỏi to đùng: Mình đang làm cái quái gì ở đây?
Nếu năm 15 tuổi tôi thôi cố gắng quay trở lại lớp năng khiếu sau một năm nghỉ bệnh, sẽ không có những lần đứng trên sân khấu, sẽ không có cả tá chàng trai hâm mộ vây quanh để tôi mơ mộng rằng luôn có một hoàng tử bạch mã ở đâu đó chờ mình.
Nếu năm 20 tuổi tôi không cố gắng học tiếng Trung, tôi sẽ không trở thành dịch giả, không hình dung ra việc viết một cuốn sách, và sẽ không tưởng mình to lớn biết bao.
Nếu năm 35 tuổi tôi không cố gắng nộp đơn chương trình thạc sỹ, cố gắng vác cái bụng to đùng đến lớp mỗi ngày dưới nắng hè, tôi đã không có cơ hội đặt chân đến Mỹ và bắt đầu đặt dấu hỏi về cuộc đời mình.
Thế nên, từ hôm nay tôi sẽ dừng cố gắng (làm một điều gì đó).
Sẽ không cố chứng tỏ rằng mình thông minh, để chấp nhận mọi khiếm khuyết của bản thân, và chấp nhận rằng phạm cùng một lỗi đến lần thứ ba, thứ tư thì cũng là điều hết sức bình thường.
Sẽ không cố tìm kiếm một cuộc sống “tốt đẹp hơn” mà người ta cứ rỉ rả nói vào tai rằng tôi “xứng đáng”, để chấp nhận rằng cuộc đời đầy shit và hãy vui vì mình còn nước tắm khi shit đổ xuống đầu.

No Comment