Hạ đến nhà ga Union ở trung tâm Washington DC sớm hơn 30 phút trước khi chuyến xe buýt đi New York khởi hành. Nhà ga rộng mênh mông, nhưng đấy không phải lý do duy nhất khiến Hạ thấy mình lạc lõng. Từ trên mái vòm cao vút, những bức tượng tù nhân của Dacian nhìn xuống chằm chằm. Người ra vào tấp nập, nhưng dường như ai cũng biết đích mình sẽ đến. Chỉ có cô là không biết đây đã phải chặng đường cuối của mình hay chưa.
Ở quán cà phê trong nhà ga, Hạ mua một cốc Starburg rồi ngồi chờ. Giống như những lần cô ngồi chờ anh đến trong căn gác quen của hai người giữa Hà Nội ồn ào. Người đến, người đi, cho đến lúc ly cà phê nguội lạnh. Nếu như mọi lần, lúc anh đến Hạ sẽ gọi ly khác, nhưng lần này cô vội vàng uống cạn khi thấy chiếc xe vào bến. Vậy mà khi lên xe, cà phê vẫn không thể giúp cô tỉnh táo. Cơn mệt mỏi ập đến đã đánh gục sự cố chấp của cô suốt mấy ngày qua, cô ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Đến khi giật mình tỉnh giấc, người Hạ đã lạnh ngắt vì nhiệt độ thấp trong xe. Cô suýt bật khóc vì thất vọng, biết đâu anh đã ở nơi nào đó trên đoạn đường mà cô đã đi qua. Cảm giác thất vọng cứ lớn dần, cuối cùng Hạ không thể ngăn nổi dòng nước mắt chảy dài trên má. Cô lấy tấm ảnh trong túi ra, áp lên ngực để cố kìm cơn thổn thức. Nước Mỹ mênh mông thế này, cô biết tìm anh ở nơi nào?
***
New York ồn ào hỗn tạp làm Hạ ngộp thở. Cô gần như bị cuốn đi một cách vô thức trong dòng người chật cứng, chỉ còn duy nhất nỗi sợ hãi là tồn tại. Không khí chung quanh đặc quánh lại, những tòa nhà cao vút lạnh ngắt một màu vô cảm và không tìm đâu được một bóng cây xanh. Cuối tháng tám rồi nhưng nắng vẫn chói chang, hơn bảy giờ tối mà không khác gì giữa trưa hè Hà Nội. Mệt nhoài sau hơn 5 giờ đồng hồ ngồi xe, cộng thêm cái đói cồn cào, Hạ gần như lả đi. Đến Quảng trường Thời đại, cô ngồi vội xuống một khoảng ghế còn trống để không ngã quỵ ra đâu đó.
Phải một lúc Hạ mới lấy lại được nhịp thở bình thường, song cảm giác sợ hãi thì không sao tan đi nổi. Các màn hình khổng lồ trên đầu thay đổi hình ảnh liên tục, màu sắc, ánh sáng loang loáng lướt qua. Những cô gái mặc bikini hình cờ Mỹ cầm đàn nhảy nhót, vài nhân vật hoạt hình níu tay người qua đường lại chụp ảnh để kiếm mấy đồng đô lẻ. Một nhóm hippi hò hét biểu tình đòi gì đó, bên cạnh những chiếc loa phát ra tiếng nhạc uỳnh oàng. Anh có thể ở đâu giữa đám đông xô bồ ấy? Hạ nhắm mắt lại, mong sao khi mở ra sẽ thấy anh đang đứng trước mặt, mỉm cười như giễu cô vì cái tật sợ đám đông.
Em đi đâu thế, làm anh tìm mệt muốn chết!
Anh hơi cáu, nhưng trong giọng nói vẫn chan chứa yêu thương.
Cô mừng quýnh. Chỉ một giây lơ đãng nhìn theo người thổi bong bóng, cô đã tuột tay rồi lạc mất anh giữa hội chợ người đông như kiến. Càng tìm càng mất, Hạ đã phải cố gắng lắm mới lấy lại được bình tĩnh để đứng yên một chỗ chờ anh quay lại. Chỗ cô đứng như lún dần xuống, sâu dần, sâu dần. Những bóng người loang loáng lướt qua, tiếng nói cười, tiếng hò hét như một tấm màn nặng chịch chụp xuống đầu, làm cô muốn thoát ra nhưng không sao thoát nổi. Thế nên khi nghe thấy tiếng anh, dù biết anh không có ý trách móc, nhưng cô vẫn òa khóc nức nở. Anh luống cuống dỗ dành, không biết làm thế nào nên chỉ biết ôm lấy cô rồi ghì chặt trong lòng.
Ngay lúc này đây, kẹt giữa đám đông hỗn độn ở New York xa lạ này, cô thực sự muốn òa lên khóc như hồi ấy. Nhưng sẽ không có một vòm ngực rộng rãi và ấm áp để cô úp mặt mình vào. Cô cũng không thể chạy trốn khỏi nơi đó, không thể bỏ đi với ý nghĩ anh đang ở đây, chỉ cần cô cố gắng một chút nữa thôi là tìm được.
***
New York yên tĩnh hơn một chút vào sáng sớm, khi mặt trời chưa lên cao. Khách sạn ngay gần công viên trung tâm nên cô chỉ đi vài bước là vào đến nơi. Trong số các bức ảnh anh gửi về, có một bức anh ngồi ngay trước bức tường phủ kín thường xuân, loài dây leo tượng trưng cho sự bình an. Bức ảnh ấy anh ghi chú bên dưới: “Dành riêng cho em. Bình an đến khi anh về nhé!”. Khi xem ảnh, cô đã mỉm cười. Một người đàn ông tưởng như chẳng quá coi trọng thứ gì như anh nhưng vẫn luôn nhớ từng chút một những sở thích dù là nhỏ nhặt của cô. Hạ bước đi như người mơ ngủ. Thường xuân mọc đầy trong công viên, nhưng bức tường nơi anh ngồi thì cô không tìm thấy. Chẳng lẽ anh đã đi mang hết những gì liên quan đến mình hay sao?
Bắt taxi vượt qua cầu Brooklyn, Hạ tìm được một chỗ khá yên tĩnh bên sông. Cách nhau không xa lắm, nhưng phía bên này khác hẳn, không gian thoáng đãng hơn. Nhìn về phía quận Manhattan, cô chợt nghĩ về Howard Roark. Giống như anh, cô cũng thích nhân vật ấy, nhưng khi nhìn toàn cảnh New York từ góc độ này, cô bỗng thấy băn khoăn. Roark theo đuổi trường phái kiến trúc hiện đại, và mỗi tác phẩm của anh ta phải là một thứ cực kỳ khác biệt. Song khi nhìn những tòa nhà có kiến trúc khác biệt đứng xen lẫn giữa các công trình được làm theo lối truyền thống khá giống nhau, Hạ lại thấy hơi tức mắt. Cô vẫn thích một thứ gì đó đồng nhất và bản sắc hơn là sự phá cách. Chắc chắn là vì cuốn tiểu thuyết ấy nên anh muốn đến nơi này, và biết đâu anh cũng đã từng ngồi đây, nhìn về phía trung tâm New York với đầy những ý tưởng lạ lùng.
Tiếp tục lang thang trên đường phố cho đến khi chân không còn cảm giác, lúc dừng lại, Hạ thấy mình đang đứng trước nhà thờ thánh Patrick. Tháp chuông cao vút vươn thẳng lên trời xanh như xa lánh hẳn sự ồn ào hỗn tạp, dành một không gian yên biệt cho những linh hồn đã về với Chúa.
Vừa bước vào bên trong, Hạ lập tức thấy lòng mình dịu lại. Nắng chiếu qua những bức tranh kính khiến các khuôn mặt thánh thiện sáng lên, giống như thiên thần đang giáng xuống. Buổi lễ chủ nhật vừa kết thúc, mọi người khoác tay nhau chậm rãi ra về. Hạ chọn một chỗ gần tượng Chúa rồi ngồi xuống, khẽ cúi đầu.
– Con đang có chuyện gì muộn phiền sao, con gái?
Hạ ngẩng đầu lên. Không biết cô đã ngồi đấy bao lâu, còn vị cha xứ với cặp kính trắng hiền từ đã đến bên tự lúc nào.
– Thưa cha, con…
Cô bối rối, không sao nói được trọn câu.
– Chúa lòng lành sẽ che chở cho con, nâng đỡ con vượt qua những thời khắc khó khăn. Ta không biết con đã gặp chuyện gì nhưng Chúa luôn thấu hiểu và ở bên con lúc con cần.
– Thưa cha, con đã… lạc mất người mình yêu thương nhất trên đời. Con… con không biết phải tìm anh ấy ở đâu.
– Chúa không chia rẽ những người yêu nhau. Con hãy tin rằng mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp. Nào, xem ta có thể giúp gì cho con.
Hạ lấy bức ảnh trong túi đưa ra cho vị cha xứ khả kính. Ông nhận lấy rồi hơi cau mày.
– Ta chưa từng gặp người này ở trong nhà thờ. Nhưng ta sẽ hỏi các tín hữu, có thể ai đó biết. Con hãy chờ ở đây.
Dù không mấy hi vọng, nhưng Hạ cảm thấy lòng hơi lắng lại. Giữa New York sống gấp này, không ngờ cô lại tìm được một góc bình yên đến vậy. Trong khi chờ đợi, Hạ chợt nghe thấy tiếng nhạc vẳng đến. Theo hướng tiếng nhạc, cô đi ra ngoài vườn. Một người đàn ông đang đứng thổi kèn harmonica cạnh tường rào. Vườn nhà thờ không rộng lắm, nằm rải rác dưới bóng cây cổ thụ là những bia mộ cao thấp khác nhau. Hoa hồng trắng đang nở rộ, trong vườn thoang thoảng mùi hương.
Ở Hà Nội cũng có một nhà thờ trồng nhiều hoa hồng như vậy. Một chiều chủ nhật, anh đưa cô đến đó nhưng hai người không vào trong mà chỉ ngồi ngoài vườn. Có lần tình cờ đi qua đấy, anh biết chắc cô sẽ thích nên nhất định đưa cô đến. Hôm ấy là cuối hạ, hoa hồng đã tàn gần hết nhưng vẫn còn giữ lại được chút hương. Họ ngồi ở đó rất lâu, nối từ buổi lễ sáng sang lễ chiều. Không cần nói gì nhiều, chỉ tựa vào nhau là đủ. Khi những buổi chiều như thế đã không còn, cô nghĩ giá như họ cứ nói chuyện thật nhiều, có lẽ sẽ dễ quên hơn. Ký ức càng ngọt ngào trầm lắng, càng không thể nào mất đi và khiến người ta đau khổ nhiều hơn.
***
Cánh cửa có treo vòng nguyệt quế tết bằng oải hương khẽ mở ra, Hạ buông hành lý xuống chân rồi lao vào vòng tay Anne. Bà hôn lên trán cô, chỉ nhẹ nhàng vỗ về mà không nói câu gì.
– Con không tìm thấy gì cả, không thứ gì của anh ấy còn hiện diện ở đó nữa.
Hạ vừa nói vừa khóc nấc lên. Anne chỉ siết chặt tay hơn, im lặng. Bà biết nói gì trong lúc này cũng sẽ không khiến cô thấy nhẹ lòng hơn. Phải mất một lúc sau, Hạ mới thôi thổn thức. Anne đưa cô vào phòng rồi để cô lại đó một mình. Hạ buông người nằm vật xuống giường, cảm thấy rã rời. Những ngày vất vưởng ở New York đã biến Maryland thành nhà, nơi mà cô chỉ mong lập tức được quay về. Căn phòng thoang thoảng mùi thơm ngọt mà Hạ không biết là của hoa gì. Ánh nắng cuối hè xuyên qua tấm rèm mỏng chiếu lên gối tạo thành cảm giác ấm áp rất thật. Không phải cái nắng gay gắt khiến người ta muốn bốc hơi ở New York, chỉ vậy thôi cũng đủ làm cho Hạ thấy bình tâm.
Ngay lần đầu đến đây, cô đã hiểu vì sao anh lại muốn sống ở nơi này, ngoại ô Maryland với những khoảng rừng xanh ngắt, những đồng cỏ mênh mông, những con dốc cao mà từ lâu đã biến mất ở Hà Nội. Theo địa chỉ anh gửi, Hạ tìm được ngôi nhà nhỏ ở Spring Silver không mấy khó khăn. Đó là một ngôi nhà điển hình kiểu Mỹ với khoảng vườn trước trồng đầy hoa hồng và mặt đất thì phủ kín thường xuân. Bà chủ nhà, Anne, khi mở cửa cho cô dường như đã biết chắc rằng cô sẽ đến, lập tức dẫn vào căn phòng mà anh từng ở. Đó là một người phụ nữ gốc Phi dễ mến, sống cùng chồng, Tim, một kỹ sư ngành điện đã nghỉ hưu. Lần đầu gặp cô đã thấy trân trọng tình cảm sâu đậm mà họ dành cho nhau, nó hiển hiện trên từng cử chỉ và lời nói. Khá lâu sau khi Danish, người con trai duy nhất chuyển đến sống ở bang khác do cú sốc lớn vì người bạn thân tự sát, họ đăng thông báo cho sinh viên nước ngoài đến ở nhờ theo hình thức homestay. Vì anh cùng tầm tuổi Danish nên Anne đã đồng ý nhận ngay khi anh đến gặp, không những vậy còn dồn hết tình cảm cho anh và đối xử như với chính con trai mình vậy.
Nếu không có hai con người tốt bụng ấy, Hạ không hiểu những ngày lang thang trên đất Mỹ của mình sẽ thảm hại đến mức nào. Vợ chồng Anne không chỉ cho cô ở nhờ, mà còn chỉ dẫn cho cô mọi thứ để tự bảo vệ mình, an toàn và sống sót khi đi lại một thân một mình trên mảnh đất xa lạ này. Với sự giúp đỡ của họ, cô đã đi từ bờ Đông sang bờ Tây, đến tất cả những nơi anh từng ghé đến. Thậm chí trong những ngày cô ở lại, bữa ăn hay sinh hoạt trong gia đình cũng thay đổi chút ít để cô thích nghi được. Giá như đến đây trong hoàn cảnh khác, chắc Hạ đã có những ngày cực kỳ vui vẻ. Buổi sáng thức dậy, chỉ vài bước là có thể vào rừng, nơi tuyệt đối tĩnh lặng giữa một Maryland yên tĩnh. Trong thư gửi về, anh từng kể rất nhiều về những khoảng rừng ấy và bảo muốn một ngày nào đó để cô nằm gối lên tay anh trên lớp lá khô, cạnh những trảng hoa màu tím lẫn vàng tuyệt đẹp, cùng nhìn lên trời qua những khe lá ngắt xanh.
***
Chiều hôm đó, ông bà chủ nhà ngỏ ý mời Hạ cùng đi đến dự một bữa tiệc gia đình ở Virginia, nhưng cô nói mình có thể ở lại nhà một mình nếu họ không thấy phiền. Đến gần tối thì cơn giông ập đến. Trời vần vũ mây đen, chiếc phong vũ biểu trước cửa nhà quay điên cuồng. Được một lúc thì mưa trút xuống sầm sập. Đấy là trận mưa đầu tiên ở Maryland từ sau khi cô đến Mỹ. Mưa lớn kèm theo sấm chớp tiếp tục xé rách bầu trời. Sau một tiếng đoàng, đèn trong nhà đột nhiên phụt tắt.
Bóng tối ập xuống bất ngờ làm Hạ hơi hốt hoảng. Ngồi một lúc chờ mà không thấy có gì thay đổi, cô quyết định mò mẫm xuống tầng hầm tìm nến, hoặc nếu có đèn sạc dự phòng thì càng tốt. Ở ngay dưới chân cầu thang có gian phòng chứa dụng cụ sửa chữa các loại của Tim, đồng thời cũng là nơi Anne để mọi thứ cần thiết.
Thỉnh thoảng ngoài trời lại chớp sáng nhưng bóng tối trong cầu thang cũng chỉ loãng ra hơn một chút trong vài giây ngắn ngủi. Hạ dò từng bước rồi cuối cùng lần được đến nơi. Cô xoay nắm đấm, cánh cửa cọt kẹt mở ra. Mùi lạnh lẽo xộc vào mũi khiến cô choáng váng. Đến lúc đó cô mới nhận ra là mình chẳng có khả năng nào để tìm được nến hay đèn trong căn phòng tối như hũ nút này. Mỗi lần cố di chuyển, Hạ lại va phải một thứ gì đó. Đụng vào một vật dưới chân suýt ngã, cô ngồi thụp xuống, quyết định không tìm nữa.
Hồi còn là sinh viên, có lần cô và anh tham gia một chương trình hè tình nguyện. Năm ấy họ đi Minh Thanh, vừa lên tới nơi được một ngày thì có lũ quét. Dòng nước xiết cuốn trôi mọi thứ trên đường nó đi qua, bao gồm cả cột điện, để lại xóm làng tan hoang mịt mùng trong bóng tối. Chia nhau ở nhờ trong nhà dân, ban ngày cả nhóm ra ruộng giúp bà con xúc đất đá đổ ra ngoài để cầy bừa lại cho kịp mùa vụ, đến tối tay chân mỏi như muốn rời ra, lại thêm không có đèn, mấy đứa con gái hầu như không dám đi đâu. Hôm ấy cô muốn ra bưu điện gọi về nhà, nhưng không rủ được ai nên đành đi một mình, phần vì nóng ruột, phần vì đêm ấy cũng có trăng. Khi đi được nửa đường rồi mới thấy hối hận, lại sợ tụi bạn chê nhát nên không muốn quay về. Lúc đã sợ rồi thì tự nhiên mọi thứ xung quanh cũng trở nên đáng sợ hơn, ánh trăng non mờ mờ thậm chí còn khiến những tàu lá chuối đung đưa bên đường trông càng ma quái. Đang đi thì trời tối sụp, ánh trăng yếu ớt không xuyên qua nổi đám mây đen nặng chịch. Tim Hạ đập thình thịch, chân nhũn ra không chịu bước tiếp. Cô đành ngồi thụp xuống ven đường, một mình trong bóng tối đen kịt như nhựa đường, cầu mong phép lạ xảy ra. Phép lạ xảy ra thật, anh xuất hiện với chiếc đèn dầu cầm trên tay, vẫn mặc bộ đồ lao động lấm lem ban ngày nhưng trong mắt cô lúc ấy anh khác chẳng gì một thiên sứ hiện ra trong quầng sáng chói lòa. Sau này anh bảo, vẻ mặt cô lúc ấy khiến anh muốn được là người che chở, bảo vệ cho cô suốt cuộc đời.
Không biết Hạ ngồi đó bao lâu trong miền ký ức ngọt ngào, đột nhiên đèn bật sáng. Chớp mắt cho khỏi lóa, Hạ nhìn sang bên cạnh xem mình đã làm đổ thứ gì. Ngay trước mặt cô là một chồng báo còn khá mới. Bức ảnh cùng dòng tít lớn ở trang bìa của tờ báo đập vào mắt cô. “Xả súng đẫm máu ở New York, 12 người thiệt mạng”. Góc trên ghi ngày 25 tháng 6. Hạ cầm lấy tờ báo một cách vô thức. Trong bài viết, người ta đăng đầy đủ tên tuổi của các nạn nhân. Căn phòng đột nhiên không còn không khí, quay cuồng quanh cô. Ngực Hạ quặn thắt, đau không chịu nổi. Có những sự thật dù ta cố quên đi nhưng không có nghĩa là nó không tồn tại. “Anh sẽ về mà, kiểu gì cũng sẽ về tới nhà”. Dòng tin nhắn anh gửi về không ngờ lại là điềm báo. Về trong một chiếc bình kín bưng lạnh lẽo cũng là về. Không, không phải theo kiểu đó. Hạ chồm dậy, muốn nhanh chóng thoát khỏi nơi ấy để không chết vì ngạt thở. Những hình ảnh khủng khiếp trong vụ xả súng vẫn bám riết lấy cô không chịu buông tha. Những đoạn video với âm thanh ghê rợn được chia sẻ trên mạng, tiếng la hét của các nạn nhân, tiếng còi hú của xe cảnh sát, tiếng súng nổ chát chúa. Hộp tro được bố mẹ anh đưa về, đám tang ngập tràn hoa cúc trắng, nghĩa địa những chiều hoang lạnh, bệnh viện sặc mùi thuốc tẩy với những tấm ga trải giường màu trắng. Tất cả một lần nữa hiện lên trong đầu Hạ như một cuốn phim quay chậm. Cô chạy lên cầu thang, lao ra ngoài đường. Mưa tạt vào mặt bỏng rát nhưng cũng không bằng nỗi đau đớn đang xâm chiếm dần dần khắp cơ thể Hạ. Cô chạy đi không phương hướng, vừa chạy vừa khóc gọi tên anh.
Khi dừng lại, Hạ đã ở trong rừng. Mưa đột nhiên tắt hẳn, dù nước từ lá cây vẫn rơi xuống lách rách. Đất dưới chân cô ướt nhẹp. Đứng giữa khoảng rừng đen đặc và rũ rượi sau cơn mưa giông ấy, Hạ chợt thấy người mình trống hoác. Cô tựa lưng vào một gốc cây, thở dốc. Một mùi thơm nhè nhẹ lan tỏa quanh nơi Hạ đứng. Mùi hương quá thân quen làm Hạ thấy mắt cay xè. Cô lắc đầu, cắn chặt môi, cố không để bị ảo giác đánh lừa nữa. Anh không còn trên đời này, dù cô có đi tận chân trời góc bể để tìm thì anh cũng đã không còn. Đó là sự thật.
***
May là Tim và Anne tìm thấy Hạ và đưa cô về nhà kịp trước khi cái lạnh thấm vào phổi. Cô nằm li bì suốt ba ngày, đến khi tỉnh dậy, điều đầu tiên cô nói với Anne là mình muốn về nhà.
Giúp cô đặt vé xong, Anne lái xe đưa Hạ đến đại học Maryland. Quang cảnh không khác gì trong những bức ảnh anh gửi cho cô, chỉ có những cây sung dâu đã bắt đầu nhuốm đỏ. Tới mỗi nơi, sân vận động anh từng chơi bóng trong giải thường niên, thư viện mà anh vẫn ghé qua mỗi ngày, văn phòng du học sinh nơi anh làm tình nguyện viên…, Anne lại để cho Hạ vài phút một mình. Sau khi đi một vòng quanh trường, bà dẫn cô vào khoa Kiến trúc. Trong hành lang của khoa, họ vẫn còn giữ bức ảnh anh chụp cùng các sinh viên xuất sắc của khóa sau đại học năm ấy. Giáo sư trưởng khoa, người đã trực tiếp hướng dẫn anh làm luận văn tốt nghiệp, ngỏ ý tặng lại cô bức ảnh, song cô khẽ lắc đầu từ chối. Một phần của anh đã mãi mãi ở lại nơi này, nơi anh tìm thấy niềm vui và ý nghĩa của cuộc đời, thì mang một tấm ảnh về đâu có khác gì.
Bữa trà cuối cùng ở nhà Anne mang không khí cực kỳ đặc biệt. Họ nói nhiều về anh, không cần lảng tránh vì sợ làm tổn thương cô như những ngày trước nữa. Anne làm món bánh ngọt truyền thống của gia đình, họ ngồi dưới tầng hầm ấm cúng cùng trò chuyện, gần gũi như những người bạn hữu lâu năm. Tim lần đầu tiên chơi dương cầm kể từ ngày Danish ra đi. Trong tiếng đàn trầm trầm buồn như đong đầy tiếc nhớ, Hạ cúi đầu nghĩ về mấy tuần ngắn ngủi trên đất Mỹ. Không tìm được anh, nhưng những thứ cô tìm thấy sẽ trở thành một phần ký ức mà từ giờ cô phải mang theo. Cuộc sống vốn đầy những cuộc chia ly, ai biết nó sẽ tới khi nào kia chứ. Thế nên, dù chỉ còn một chút ký ức êm đềm, cũng đủ cho cô sống tiếp với ngày hôm nay…

No Comment